Bàn thêm về một chữ trong hai câu ca dao

Chuyện dị bản trong văn học dân gian là điều không tránh khỏi, vậy nên khi gặp những chữ, những từ, thậm chí là những câu không đúng như những gì mình vẫn được nghe, được đọc, được học, được hiểu… từ trước đến nay âu cũng là chuyện thường tình.

cai-hai-gat-lua.jpg
Cái hái gặt lúa.

Có không ít người khi bàn về văn học dân gian còn viết/nói rằng "câu nguyên bản", "câu dị bản", theo chúng tôi viết thế/nói thế cũng chỉ là tương đối thôi, rất khó để mà phân biệt "nguyên" và "dị" vì đây là văn học truyền miệng, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố mang tính quyết định như trí nhớ, hoàn cảnh (tâm trạng), vùng miền… của người đọc và của cả người nghe... Và phụ thuộc vào tầm đón đợi của từng người sẽ có những phân tích, luận giải khác nhau. Do đó, trong bài viết này, chúng tôi chỉ muốn đưa ra một cách hiểu thêm (chứ không khẳng định đây là cách hiểu duy nhất đúng) về một chữ trong hai câu ca dao:

"Rồi mùa tóoc ngạ rơm khô
Bạn về quê bạn biết (nơi) mô mà tìm"

Khi đọc hai câu ca dao trên, điều có thể dễ đi đến thống nhất là nó xuất phát ở miền Trung. Sở dĩ nói như vậy vì trong câu "lục" có chữ tóoc và trong câu "bát" có chữ mô làm “căn cước” ngôn ngữ của người miền Trung! Hai chữ ấy là "giấy khai sinh" về quê hương bản quán của cả hai câu ca dao trên.

Điều thứ hai là cách hiểu về tình ý của hai câu ca dao cũng không có mấy khác nhau và cho dù trong câu có thể có những chữ đang chưa thống nhất nhưng nghĩa của cả hai câu thì đều đưa người nghe đến một cách hiểu là: Hai câu trên nói lên tâm trạng của người đi, kẻ ở sau mùa gặt. Cụ thể đây là "bạn" và "tôi". "Bạn" đến quê "tôi" gặt lúa thuê, sau khi hết mùa: Lúa gặt xong, trục/đập, phơi khô (khén) cho vào bồ, chum, cót…; rơm cũng đã phơi khô xây thành cây, vun thành đống/đụn hoặc chất lên chạn, khi ấy cũng là thời điểm tóoc (rạ) bắt đầu nẫu gốc và ngạ từ từ xuống... Bạn không còn việc chi (gì) mà làm nữa, nhận tiền công bằng tiền hoặc thóc (ló), sau khi ăn bữa cơm mới rồi chia tay, bạn về quê bạn. Tình cảm này cũng có thể là của các "bạn" giữa các phường gặt thuê cùng đến gặt chung cho một chủ (bạn cùng cảnh áo ngắn) nhưng cũng có thể là tình cảm của cô/cậu con chủ nhà thậm chí là chủ nhà đối với các thành viên trong phường gặt.

Như trên đã phân tích, đây là hai câu ca dao thuộc phần văn học dân gian xuất phát ở khu vực miền Trung của nước ta. Mặc dù chúng ta nằm trong vùng văn minh lúa nước (đồng bằng Bắc Bộ), nhưng "Ruộng đồng thẳng cánh cò bay" thường dùng để chỉ vựa lúa Thái Bình, Nam Định (cũ) hay vùng Đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam, còn những thửa ruộng miền Trung đa số là nhỏ "Những thửa ruộng như thớt treo vách đá/ cha dạy con đứng thẳng làm người" (thơ NTH). Địa hình miền Trung nhiều đồi núi, đất dốc, sông ngắn mà chảy xiết, và ruộng ở miền Trung đa số là manh mún, sâu, phèn chua… Dẫn ra như thế để bàn tiếp về chữ thứ tư trong câu "lục" của hai câu ca dao trên.

Qua khảo sát chúng tôi thấy, chữ thứ tư trong câu "lục" của hai câu ca dao trên thường được viết và hiểu rất khác nhau. Điển hình thường thấy là các chữ: Rạ, rã, ngã, rạp và ngạ… Sau đây chúng tôi thử đi phân tích xem chữ nào đúng là "mắt chữ" của câu "lục" và hợp với chữ "mô" là “căn cước” miền Trung của hai câu ca dao trên nhất:

cay-rom.jpg
Trò chơi của trẻ em nông thôn.

"Rồi mùa tóoc rạ…". Nếu hiểu chữ rạ ở đây là thân cây lúa thì chữ này sẽ bị loại ra sớm nhất vì tóoc = rạ= thân cây lúa và người miền Trung cũng không dùng chữ rạ để chỉ thân cây lúa mà chỉ nói đến tóoc (dân côộc (gốc) tóoc (rạ)). Khi nói đến "dân côộc tóoc" là muốn nói đến dân gốc, quê gốc ở miền Trung. Chữ rạ còn có nghĩa là rã ra (tan rã), nếu hiểu theo nghĩa này thì tạm chấp nhận được, nhưng ở đây nó chưa được hay và chuẩn lắm với phần rơm khô. Khi rơm mới khô thì gốc rạ (tóoc) chưa đủ thời gian để rã ra được.

Ngoài ra từ rạ còn để chỉ đến một dụng cụ dùng chặt cây (dao, rạ, rựa) nhưng không liên quan đến câu ca dao nên không đưa vào bài viết để phân tích. Kế đến là chữ "rã" như đã phân tích ở trên và có người còn nói chữ rã và chữ rạ thực chất là một chữ nhưng do người miền Trung nói sao viết vậy (hay nhầm lẫn giữa các dấu hỏi, ngã, nặng…), tương tự ở chữ "ngã" cũng thế, ở đây hoàn toàn không phải không phân biệt được các "thanh" đâu, rất nhiều vùng ở miền Trung khi bị ngã họ không nói là ngã mà nói là bị bổ. Bổ = ngã, (ngã ngửa = bổ ngả; bổ trấp/trập mặt = ngã sấp mặt).

Kế đến là chữ "rạp", đây là chữ để chỉ cây tóoc đã bị bổ rạp xuống mặt ruộng. Thực chất chữ này nó cũng không sai nhưng chỉ là chưa hay bởi như trên đã phân tích, ruộng đồng miền Trung cái thời "trung đại" hệ thống thủy lợi chưa như bây giờ, việc thau chua rửa mặn cũng không làm được, vôi còn không có để xây nhà thì nói gì đến cải tạo ruộng phèn, và giống lúa thì vẫn là giống lúa cũ, cây cao, thời gian phát triển chậm nên thường một năm chỉ sản xuất được một vụ mùa. Vì là thân lúa cao lại ruộng phèn nên lúa không cứng cây và nhiều mưa bão nên lúa thường bị bổ rạp xuống, đến khi gặt phải dùng dụng cụ là cái hái gặt lúa, dụng cụ này gồm một tay cầm bằng tre có cái vòi cong cong để khều gom lúa lên và có gắn lưỡi cắt hình bán nguyệt ở phần bụng.

Khi lúa được gom lên thì tay trái dùng chét tay để cầm lấy phần cổ của bông lúa và tay phải đẩy hái ra phía trước làm cho lưỡi hái "tiện" đứt tách rời phần thân và phần bông lúa (phía ở lại ruộng là tóoc và phía có bông lúa sau khi tuốt lúa đi rồi còn lại là rơm). Vậy nên tóoc rạp thì kể cả khi chưa gặt cơ bản nó đã rạp chứ không chờ đến khi rơm khô. Và cuối cùng là chữ "ngạ", như trên đã dẫn, có người nói ngạ thực chất là chữ ngã viết sai dấu. Nhưng không phải vậy, người miền Trung ngã gọi là bổ vậy nên ngạ không phải là bổ.

Khi nói đến ngã (bổ) (ở người) thường được hiểu đó là hành động bị động bất đắc dĩ: bị ngã, bị xô ngã, bất thình lình ngã xuống, trượt chân bị ngã xuống… nhưng người miền Trung nói đến chữ ngạ là một hành động chủ động, từ từ và có chủ ý rõ ràng: "Chưa ăn thì cha rìu con rạ (rựa, dao)/ ăn rồi thì cha ngạ con nghiêng", hai câu này nói đến việc "căng da bụng chùng da mắt".

Khi chuẩn bị ăn uống thì khí thế rất hăng hái, tâm thế là ăn xong sẽ đi ngay vào rừng chặt gỗ nên mới mài dao, mài rạ (rựa), mài rìu cho sắc để ăn xong là lên đường, nhưng khi ăn xong rồi thì buồn ngủ, thì uể oải, con mắt nó díp lại, thế là chủ động ngạ lưng và chớp mắt một lúc. "Sống để trong dạ/chết ngạ bên mồ", câu này muốn nói về một người nào đấy muốn giữ một bí mật nào đó cho đến trọn đời. Còn đối với vật thì ngạ dùng để chỉ hành động lã xuống từ từ (ngạ trong từ Hán - Việt là đói (Ngạ quỷ = quỷ đói). Chữ ngạ này không phải là từ Hán - Việt nhưng cái hành động thì gần giống như một người đói quá và từ từ ngạ xuống). Ngạ nhiều khi chỉ ngiêng ngiêng, dựa dựa chứ không hẳn là nằm rạp sát mặt đất/ruộng…

Vậy nên với đặc điểm của ruộng miền Trung, của thời gian khi rơm khô thì cũng là lúc thân cây lúa (những cây trước đây còn đứng thẳng) thì giờ đây cũng đã bắt đầu thối gốc và cây cứ từ từ ngạ xuống, ngạ xuống một cách từ từ và dần héo rũ.

Từ tất cả những phân tích trên, chúng tôi thấy chữ ngạ đứng vị trí thứ tư là hợp lý nhất trong hai câu ca dao:

"Rồi mùa tóoc ngạ rơm khô
Bạn về quê bạn biết (nơi) mô mà tìm".

Nguyễn Thế Hùng

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.