Đọc tập thơ “Sự mê đắm của Hồ Gươm” - Bruce Weigl, Trần Lê Khánh dịch - NXB Hội Nhà văn, 2026

Bruce Weigl: Phục sinh lòng mình bằng tình yêu Hà Nội

“Sự mê đắm của Hồ Gươm”, hay những vun vén âm thầm cho tình yêu Hà Nội, của một thi sĩ mê đắm “trong cơn cuồng quay của thời gian”...

“Lời tuyên bố thuần khiết” về một tình yêu Hà Nội

Tập thơ “Sự mê đắm của Hồ Gươm” là dòng luân chuyển cảm xúc từ hiện tại trở về quá khứ, từ người viết chuyển dịch đến người đọc, trong một cuộc xáo động bất ý thức dội ra như triều cuốn, từ trong sâu thẳm con người nhà thơ “không ngừng kể câu chuyện/từ phía bên kia”.

Những chuyển động của nhịp sống Hà Nội, qua góc nhìn của một cựu binh Mỹ, có “Những người nông dân từ làng quê xa”, hay những người dân “chẳng có tài sản gì” trong những căn nhà tuềnh toàng bên sông Hồng. Hình ảnh Hà Nội được quan sát bằng trực cảm lôi kéo nhà thơ đi dần về vùng ý thức từng được chôn giấu, khiến thơ ông rơi vào trường mạch luân chuyển giữa hiện tại và quá khứ.

2aoboqxui1e0hrqeomrln24h3ofaoulthth2ix72.jpg
Nhà thơ Bruce Weigl và phu nhân bên Hồ Gươm, Hà Nội. Ảnh: Thanh Trà.

Tháng năm là một nơi chốn/chứ không phải là ngôn ngữ/mà ta có thể dùng/để hiểu rõ lối đi” (Lược sử Thời Gian ở Làng Chùa), nhưng khi đi trên những lối đời nhỏ bé lam lũ còn nhiều nguyên sơ Hà Nội dẫn ra một bờ sông từng có cây cầu mà “nước Mỹ của tôi/cố đánh bom nhưng thất bại”, nhà thơ chợt trở nên rón rén, e ngại, khẽ khàng, như sợ quá khứ không mong muốn sẽ ngồi dậy: “Tôi biết mình không nên đường đột xâm phạm họ/Chúng tôi đã làm điều đó quá nhiều lần vào năm 1967” (Hà Nội nguyên sơ).

Bất chấp sự e sợ đối với bóng tối của quá khứ, Hà Nội vẫn dắt ông quay ngược thời gian, hay chính ông đang dẫn dắt người đọc bước dần vào không gian tinh thần mang bóng dáng một “người lính cô đơn”, có những “vết thương không bao giờ lành hẳn” (Kế hoạch tác chiến).

Nhà thơ chọn cách đối diện, thậm chí chìm sâu trong những bóng dáng mà thời gian chưa thể xóa nhòa: “Càng đào sâu bao nhiêu/đất càng cho bạn thêm nhiều bấy nhiêu” (Phục sinh trên phố Lý Thường Kiệt).

Từ đây, một phần bóng tối trong những thảm kịch từng xảy ra đã cùng nhà thơ đi trong một hành trình tâm thức khác, chạm gặp những xung động mang tính hối thúc của tinh thần phục thiện, để được phục sinh lòng mình trong những tứ thơ có sứ mệnh giải thoát người viết khỏi những ràng buộc, ám ảnh tội lỗi và mong muốn được tha thứ: “Đôi khi chẳng có thuốc giải nào cho sự mất mát/ngoại trừ sự phục sinh của một linh hồn” (Sự mê đắm của Hồ Gươm).

Giữa gai sắc của ký ức và sự dịu dàng say đắm của hiện tại, có một tình yêu thuần khiết lặng lẽ se những sợi linh hồn, đưa Bruce Weigl trở lại Hà Nội lần này để viết “Sự mê đắm của Hồ Gươm”.

Lời nguyện cầu cho hòa bình

Từ đó, trường cảm phục sinh của dòng ý thức mở ra trong hiện tại, để không chỉ Hà Nội có vị trí độc tôn trong dòng mạch phục sinh linh hồn cho nhà thơ. Còn có Hòa Bình, Ninh Bình, Sài Gòn và những miền quê khác, trong những xung động mạnh mẽ của ký ức chiến tranh vọng qua một thời hậu chiến, kết tập mong muốn trở lại, tìm kiếm những tiếng vọng khác của con người, của lịch sử, văn hóa Việt Nam.

Tình yêu vốn mang theo nó những ám ảnh khó cắt nghĩa, ngay cả khi ai đó đã xác quyết rằng mình đang hiện hữu trong không gian được vây chặt bởi cảm xúc của nó. Bruce Weigl từng bắt gặp cái cảm giác “đã sống ở đây từ lâu lắm” (Thiền ở Hòa Bình), “thấy mình như ở nhà” (Học nhảy Tango ở phố Mai Hắc Đế), song nhà thơ dường như vẫn chưa thoát ra khỏi dòng luân chuyển của mạch thơ có sức mạnh của ngọn thủy triều, du đẩy ông từ ngày hôm nay trở về quá khứ.

Có lúc, như một lời thú tội, ông viết: “Tuổi mười tám/tôi trải qua chín tháng trong rừng sâu/thấy những điều tồi tệ nhất:/máu không bao giờ ngừng chảy/những quả rocket nổ gần đến mức cả thế giới rung chuyển” (Ở lại Sài Gòn).

Một cách trực diện, không cần tìm kiếm một diễn ngôn cầu kỳ, ông để tự thân những lời kể giản dị, chất chứa ám ảnh quá khứ, mang đến sức nặng đồng cảm cho bài thơ.

Ông có thể làm gì hơn, ngoài sự sám hối và cầu nguyện, khi ào ạt những tứ thơ mang tinh thần phục thiện lại tiếp tục dồn đẩy cảm xúc của một người đang hối thúc chính mình bước nhanh về phía con đường nguyện thành ánh sáng. “Tôi cầu mong điều gì đó/sẽ cứu chúng ta khỏi chính mình/không phải lại là cơn mưa tên lửa/bắn ra từ bầu trời đen kịt thêm một lần nữa” (Trấn Quốc, Tết Nguyên đán 2025).

Ông đặt niềm tin vào “những thanh gươm không vấy máu/ trồi lên từ miệng Cụ Rùa khổng lồ” (Chờ Cụ Rùa Hồ Gươm), như bất cứ một người Hà Nội nào cho đến hôm nay vẫn nguyên vẹn niềm tin vào câu chuyện truyền thuyết đầy bi tráng. Người đọc có thể thấy ông hiện diện như một người Hà Nội, mong muốn cho sự bình yên của một thành phố mà không ai đến rồi có thể lãng quên.

Thi sĩ “trong cơn cuồng quay của thời gian”

Nét bút vẽ nên gương mặt tinh thần này của Bruce Weigl có cái huyền ảo của trăng sao bên bóng dáng trữ tình soi sáng cảm thức thơ ông qua nhiều cảnh huống của tâm trạng; có sự phóng khoáng, bay bổng của cảm xúc; tính vượt thoát tri nhận của hành trình sáng tạo trên dòng thời gian.

Bruce Weigl: Phục sinh lòng mình bằng tình yêu Hà Nội ảnh 2

“…vì tôi có gương mặt/của một thi sĩ si trăng/tôi trông như điên dại như chim lặn/mỗi khi mặt trời khuất bóng/…/Tôi tự hỏi liệu mình có nhớ đường về/giữa những cánh đồng hoa dại” (Trăng tròn).

Những câu thơ say đắm run rẩy mà tôi nghĩ rằng nó không cần có thêm bất cứ một lời bình nào để trở nên lấp lánh: “Một ngày gần như mất hút/trong thứ giống như nỗi u sầu/Và tôi muốn nói sự thật/về người trong tôi mà em đã khơi dậy/như một sợi chỉ mảnh mai/se khẽ trong cơn cuồng quay của thời gian” (Vấn đề của sự thật).

Một Bruce Weigl trực diện, tha thiết phục sinh linh hồn mình trong tình yêu Hà Nội, đã thách thức cảm xúc của người đọc trước một Bruce Weigl mê đắm, tự do sáng tạo, nghiêng ngả say trăng và quá đỗi si tình: “…hãy tin vào ngàn dặm xa/tiếng chim vẫn ngân qua bầu trời/trong một lần bay hoảng hốt/và em sẽ hiểu điều tôi cất giữ bên trong dành cho em…” (Lời thú nhận muộn với thế giới Hậu Hiện Đại).

Nhà thơ hay nhắc đến hai chữ “linh hồn” trong tập thơ này, như thể có một “người dẫn dắt linh hồn” nào đó đã đưa ông nhiều lần trở lại với Hà Nội. Ông cũng nhắc nhiều đến trăng sao, bầu trời và dòng sông, cánh chim và ngọn liễu… Sự “hoang dại” và “cứu rỗi” như đôi cánh nhỏ đậu trên đầu ngọn bút của một người viết còn giữ được mạch cảm xúc mạnh mẽ và trong trẻo…

Với “Sự mê đắm của Hồ Gươm”, có một Bruce Weigl phục sinh lòng mình trong tình yêu Hà Nội. Nhưng cũng không thể không kể đến thành công trên bản dịch tài hoa của nhà thơ Trần Lê Khánh đã mang đến cho người đọc Việt Nam một Bruce Weigl khác: trong cơn “đam mê hoang dại với ngôn từ”, vẫn thấm đẫm cái không khí thân mật mà chỉ một người Mỹ đã sống lâu ở Hà Nội, có những người bạn Hà Nội thân thiết, mới có thể viết một tác phẩm như “Sự mê đắm của Hồ Gươm”.

Bruce Weigl (sinh năm 1948 tại Lorain, Ohio, Hoa Kỳ), từng tham chiến tại Quảng Trị (1967-1968), tham gia các phong trào phản chiến khi trở lại Hoa Kỳ. Ông đã xuất bản 14 tập thơ, 2 lần lọt vào chung kết giải Pulitzer dành cho thơ, trong đó có tập thơ “Bài ca bom Napalm”, tố cáo sự tàn ác của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Ông được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Hữu nghị.

Ông thường xuyên trở lại Hà Nội sống và viết trong những năm gần đây.

Trang Thanh

Các tin khác

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".