“Lời tuyên bố thuần khiết” về một tình yêu Hà Nội
Tập thơ “Sự mê đắm của Hồ Gươm” là dòng luân chuyển cảm xúc từ hiện tại trở về quá khứ, từ người viết chuyển dịch đến người đọc, trong một cuộc xáo động bất ý thức dội ra như triều cuốn, từ trong sâu thẳm con người nhà thơ “không ngừng kể câu chuyện/từ phía bên kia”.
Những chuyển động của nhịp sống Hà Nội, qua góc nhìn của một cựu binh Mỹ, có “Những người nông dân từ làng quê xa”, hay những người dân “chẳng có tài sản gì” trong những căn nhà tuềnh toàng bên sông Hồng. Hình ảnh Hà Nội được quan sát bằng trực cảm lôi kéo nhà thơ đi dần về vùng ý thức từng được chôn giấu, khiến thơ ông rơi vào trường mạch luân chuyển giữa hiện tại và quá khứ.
“Tháng năm là một nơi chốn/chứ không phải là ngôn ngữ/mà ta có thể dùng/để hiểu rõ lối đi” (Lược sử Thời Gian ở Làng Chùa), nhưng khi đi trên những lối đời nhỏ bé lam lũ còn nhiều nguyên sơ Hà Nội dẫn ra một bờ sông từng có cây cầu mà “nước Mỹ của tôi/cố đánh bom nhưng thất bại”, nhà thơ chợt trở nên rón rén, e ngại, khẽ khàng, như sợ quá khứ không mong muốn sẽ ngồi dậy: “Tôi biết mình không nên đường đột xâm phạm họ/Chúng tôi đã làm điều đó quá nhiều lần vào năm 1967” (Hà Nội nguyên sơ).
Bất chấp sự e sợ đối với bóng tối của quá khứ, Hà Nội vẫn dắt ông quay ngược thời gian, hay chính ông đang dẫn dắt người đọc bước dần vào không gian tinh thần mang bóng dáng một “người lính cô đơn”, có những “vết thương không bao giờ lành hẳn” (Kế hoạch tác chiến).
Nhà thơ chọn cách đối diện, thậm chí chìm sâu trong những bóng dáng mà thời gian chưa thể xóa nhòa: “Càng đào sâu bao nhiêu/đất càng cho bạn thêm nhiều bấy nhiêu” (Phục sinh trên phố Lý Thường Kiệt).
Từ đây, một phần bóng tối trong những thảm kịch từng xảy ra đã cùng nhà thơ đi trong một hành trình tâm thức khác, chạm gặp những xung động mang tính hối thúc của tinh thần phục thiện, để được phục sinh lòng mình trong những tứ thơ có sứ mệnh giải thoát người viết khỏi những ràng buộc, ám ảnh tội lỗi và mong muốn được tha thứ: “Đôi khi chẳng có thuốc giải nào cho sự mất mát/ngoại trừ sự phục sinh của một linh hồn” (Sự mê đắm của Hồ Gươm).
Giữa gai sắc của ký ức và sự dịu dàng say đắm của hiện tại, có một tình yêu thuần khiết lặng lẽ se những sợi linh hồn, đưa Bruce Weigl trở lại Hà Nội lần này để viết “Sự mê đắm của Hồ Gươm”.
Lời nguyện cầu cho hòa bình
Từ đó, trường cảm phục sinh của dòng ý thức mở ra trong hiện tại, để không chỉ Hà Nội có vị trí độc tôn trong dòng mạch phục sinh linh hồn cho nhà thơ. Còn có Hòa Bình, Ninh Bình, Sài Gòn và những miền quê khác, trong những xung động mạnh mẽ của ký ức chiến tranh vọng qua một thời hậu chiến, kết tập mong muốn trở lại, tìm kiếm những tiếng vọng khác của con người, của lịch sử, văn hóa Việt Nam.
Tình yêu vốn mang theo nó những ám ảnh khó cắt nghĩa, ngay cả khi ai đó đã xác quyết rằng mình đang hiện hữu trong không gian được vây chặt bởi cảm xúc của nó. Bruce Weigl từng bắt gặp cái cảm giác “đã sống ở đây từ lâu lắm” (Thiền ở Hòa Bình), “thấy mình như ở nhà” (Học nhảy Tango ở phố Mai Hắc Đế), song nhà thơ dường như vẫn chưa thoát ra khỏi dòng luân chuyển của mạch thơ có sức mạnh của ngọn thủy triều, du đẩy ông từ ngày hôm nay trở về quá khứ.
Có lúc, như một lời thú tội, ông viết: “Tuổi mười tám/tôi trải qua chín tháng trong rừng sâu/thấy những điều tồi tệ nhất:/máu không bao giờ ngừng chảy/những quả rocket nổ gần đến mức cả thế giới rung chuyển” (Ở lại Sài Gòn).
Một cách trực diện, không cần tìm kiếm một diễn ngôn cầu kỳ, ông để tự thân những lời kể giản dị, chất chứa ám ảnh quá khứ, mang đến sức nặng đồng cảm cho bài thơ.
Ông có thể làm gì hơn, ngoài sự sám hối và cầu nguyện, khi ào ạt những tứ thơ mang tinh thần phục thiện lại tiếp tục dồn đẩy cảm xúc của một người đang hối thúc chính mình bước nhanh về phía con đường nguyện thành ánh sáng. “Tôi cầu mong điều gì đó/sẽ cứu chúng ta khỏi chính mình/không phải lại là cơn mưa tên lửa/bắn ra từ bầu trời đen kịt thêm một lần nữa” (Trấn Quốc, Tết Nguyên đán 2025).
Ông đặt niềm tin vào “những thanh gươm không vấy máu/ trồi lên từ miệng Cụ Rùa khổng lồ” (Chờ Cụ Rùa Hồ Gươm), như bất cứ một người Hà Nội nào cho đến hôm nay vẫn nguyên vẹn niềm tin vào câu chuyện truyền thuyết đầy bi tráng. Người đọc có thể thấy ông hiện diện như một người Hà Nội, mong muốn cho sự bình yên của một thành phố mà không ai đến rồi có thể lãng quên.
Thi sĩ “trong cơn cuồng quay của thời gian”
Nét bút vẽ nên gương mặt tinh thần này của Bruce Weigl có cái huyền ảo của trăng sao bên bóng dáng trữ tình soi sáng cảm thức thơ ông qua nhiều cảnh huống của tâm trạng; có sự phóng khoáng, bay bổng của cảm xúc; tính vượt thoát tri nhận của hành trình sáng tạo trên dòng thời gian.
“…vì tôi có gương mặt/của một thi sĩ si trăng/tôi trông như điên dại như chim lặn/mỗi khi mặt trời khuất bóng/…/Tôi tự hỏi liệu mình có nhớ đường về/giữa những cánh đồng hoa dại” (Trăng tròn).
Những câu thơ say đắm run rẩy mà tôi nghĩ rằng nó không cần có thêm bất cứ một lời bình nào để trở nên lấp lánh: “Một ngày gần như mất hút/trong thứ giống như nỗi u sầu/Và tôi muốn nói sự thật/về người trong tôi mà em đã khơi dậy/như một sợi chỉ mảnh mai/se khẽ trong cơn cuồng quay của thời gian” (Vấn đề của sự thật).
Một Bruce Weigl trực diện, tha thiết phục sinh linh hồn mình trong tình yêu Hà Nội, đã thách thức cảm xúc của người đọc trước một Bruce Weigl mê đắm, tự do sáng tạo, nghiêng ngả say trăng và quá đỗi si tình: “…hãy tin vào ngàn dặm xa/tiếng chim vẫn ngân qua bầu trời/trong một lần bay hoảng hốt/và em sẽ hiểu điều tôi cất giữ bên trong dành cho em…” (Lời thú nhận muộn với thế giới Hậu Hiện Đại).
Nhà thơ hay nhắc đến hai chữ “linh hồn” trong tập thơ này, như thể có một “người dẫn dắt linh hồn” nào đó đã đưa ông nhiều lần trở lại với Hà Nội. Ông cũng nhắc nhiều đến trăng sao, bầu trời và dòng sông, cánh chim và ngọn liễu… Sự “hoang dại” và “cứu rỗi” như đôi cánh nhỏ đậu trên đầu ngọn bút của một người viết còn giữ được mạch cảm xúc mạnh mẽ và trong trẻo…
Với “Sự mê đắm của Hồ Gươm”, có một Bruce Weigl phục sinh lòng mình trong tình yêu Hà Nội. Nhưng cũng không thể không kể đến thành công trên bản dịch tài hoa của nhà thơ Trần Lê Khánh đã mang đến cho người đọc Việt Nam một Bruce Weigl khác: trong cơn “đam mê hoang dại với ngôn từ”, vẫn thấm đẫm cái không khí thân mật mà chỉ một người Mỹ đã sống lâu ở Hà Nội, có những người bạn Hà Nội thân thiết, mới có thể viết một tác phẩm như “Sự mê đắm của Hồ Gươm”.
Bruce Weigl (sinh năm 1948 tại Lorain, Ohio, Hoa Kỳ), từng tham chiến tại Quảng Trị (1967-1968), tham gia các phong trào phản chiến khi trở lại Hoa Kỳ. Ông đã xuất bản 14 tập thơ, 2 lần lọt vào chung kết giải Pulitzer dành cho thơ, trong đó có tập thơ “Bài ca bom Napalm”, tố cáo sự tàn ác của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Ông được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Hữu nghị.
Ông thường xuyên trở lại Hà Nội sống và viết trong những năm gần đây.