Đôi điều về chữ và nghĩa trong thơ dịch

image005-346.jpg
Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, người đã dịch "Chinh phụ Ngâm" ra chữ Nôm tạo nên một kiệt tác văn học Việt Nam. Bản dịch của bà đã làm cho tác phẩm trở nên gần gũi và lay động lòng người qua nhiều thế hệ.

1.Ai cũng biết, "Chinh phụ ngâm" (hoặc "Chinh phụ ngâm khúc") là một tác phẩm văn vần của Đặng Trần Côn, viết bằng chữ Hán, được một số người dịch ra thơ Nôm.

Một trong số những bản dịch ấy lưu truyền rất rộng xưa nay, được nhiều người coi là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, có hai câu này:

Chín tầng gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh

Những câu này được dịch từ những câu thơ chữ Hán của Đặng Trần Côn:

Cửa trùng án kiếm khởi đương tịch
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân

(Vua đang dở tiệc, chống gươm đứng dậy

Nửa đêm, truyền gấp hịch cho tướng quân)

Hãy lưu ý, hai chữ "cửu trùng" của Đặng Trần Côn được dịch thành hai chữ "chín tầng" - một cách dịch có phần... tối nghĩa.

"Cửu trùng", trong tiếng Hán (có cùng nghĩa với cửu bệ) có nghĩa là chín bậc thềm lên chỗ đặt ngai vua. Từ này được dùng để chỉ nơi vua ở, và cũng được dùng để tôn xưng nhà vua.

Theo nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn trong quyển "Chinh phụ ngâm bị khảo", NXB Minh Tân, Paris, 1953 thì hiện có bốn bản dịch "Chinh phụ ngâm", (chưa kể ba bản phỏng dịch "Chinh phụ ngâm" khác.

Đọc những bản dịch "Chinh phụ ngâm" ấy, thấy ngoài cách dịch hai chữ "cửu trùng" như trên (chín tầng) còn có các cách dịch khác, là chín lần, chín đợt, bệ rồng.

Theo ý kiến của tôi, tôi nghĩ cách dịch đắc địa nhất của hai chữ "cửu trùng" ở đây là... không dịch gì cả. Lúc ấy câu thơ sẽ là:

Cửu trùng gươm báu trao tay

Đừng có ngại để nguyên từ Hán Việt trong một câu thơ dịch. Suốt cả bản dịch "Chinh phụ ngâm" quen thuộc lâu nay nhiều trường hợp đã để như thế. Chẳng hạn, xuất chinh, thê noa, đoạn trường v.v...

Tất nhiên, ta không quên rằng, dù để nguyên "cửu trùng" hay có dịch ra gì đi nữa, vẫn cần có giải nghĩa rõ, để người đọc bình thường không dùng chữ Hán vẫn có thể hiểu được nghĩa của hai chữ này.

2. Bản dịch bài thơ "Tì bà hành" nổi tiếng của nhà thơ Bạch Cư Dị, Trung Quốc, lưu truyền rất rộng ở ta, trước kia coi là của người này, người nọ, bây giờ đã được các nhà nghiên cứu xác định là của Phan Huy Thực. Nó nổi tiếng đến nỗi trên 20 bản dịch đã ra đời nhiều năm nay không bản nào sánh được.

Bản dịch bài thơ "Tì bà hành" nổi tiếng của nhà thơ Bạch Cư Dị, Trung Quốc, lưu truyền rất rộng ở ta, trước kia coi là của người này, người nọ, bây giờ đã được các nhà nghiên cứu xác định là của Phan Huy Thực. Nó nổi tiếng đến nỗi trên 20 bản dịch đã ra đời nhiều năm nay không bản nào sánh được.

Tuy vậy, bản dịch của Phan Huy Thực cũng có vài... hạt sạn. Khi tả cảnh đánh đàn của người kỹ nữ, Phan Huy Thực dịch:

Ngón buông, bắt khoan khoan dìu dặt
Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu
Dây to nhường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ như là chuyện riêng.

image001-7016.jpg
"Chinh phụ ngâm" là tác phẩm nổi tiếng của danh nhân Đặng Trần Côn.

Chỉ đọc qua, người ta cũng thấy câu thứ tư đã thất vận (làm mất vần) trong thơ lục bát, một điều kiêng kị khi sử dụng thể thơ này.

Trong một bài giới thiệu bản dịch "Tì bà hành", tôi có mạn phép dịch giả sửa lại:

Dây to nhường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng

Tôi cho như là với khác nào, ý nghĩa gần như nhau, và khác nào đã giải quyết được chuyện vần trong hai câu lục bát.

Một lần, tình cờ đọc một bản dịch "Tì bà hành" của Phan Huy Thực in ở một quyển sách, tôi cũng thấy người giới thiệu bản dịch này chữa lại y như tôi. Có lẽ ở đây, hai "tư tưởng... nhỏ" đã gặp nhau?

Một thí dụ khác: ở cuối bản dịch "Tì bà hành" của Phan Huy Thực, khi tả quan khách nghe tiếng tì, Phan Huy Thực dịch:

Nghe não nuột khác tay đàn trước
Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi

Rõ ràng, ở câu thứ hai, cái cảnh tuôn nước lệ rơi có gì hơi thô. Các vị túc nho làm bộ sách "Thơ Đường" (NXB Văn hóa, H. 1962) đã sửa câu thứ hai thành:

Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
Câu sửa lại hay hơn hẳn câu trước.

Chỉ có điều, cả hai trường hợp trên đây, những người sửa (trong đó có tôi) khi giới thiệu bản dịch của Phan Huy Thực đều không nói năng gì, để người chưa đọc bản dịch xưa coi đấy là cách dùng của Phan Huy Thực!

Với một bản dịch đã nổi tiếng mà chúng tôi làm như thế, cũng là không phải.

3.Bài thơ "Tứ xuân" của nhà thơ Lý Bạch đời Đường, Trung Quốc, có hai câu:

Đương quân hoài quy nhật
Thị thiếp đoạn trường thì

Dịch xuôi:

Khi chàng nhớ đến ngày về [quê]
Cũng là lúc thiếp [đau buồn] đứt ruột
Lần đầu, trong bản dịch thơ, tôi dịch:
Chàng mong ngày trở lại
Đúng lúc thiếp buồn tênh!

Bản dịch bài thơ đã mấy lần đăng báo, in sách. Bỗng một lần đọc lại, tôi giật mình tự nhủ: Không được! Buồn tênh ở bản dịch quá nhẹ so với đoạn trường (đứt ruột) của tác giả.

Tôi sửa là:

Khi chàng mong trở lại
Thiếp đứt ruột, héo gan!

Rõ ràng, lần này ý thơ mạnh hơn, cho dù người đọc ngày nay thấy mấy chữ "đứt ruột, héo gan" có vẻ sáo mòn. Tôi cho dịch như thế mới sát ý tác giả, và lấy bản này.

(Tiện đây, xin nói về nguồn gốc của mấy chữ đoạn trường, người Trung Hoa xưa kể rằng một lần, có người giết một con vượn con. Vượn mẹ lăn lộn, kêu gào, khóc lóc thảm thiết cho đến chết. Người ta mổ bụng vượn mẹ thì thấy ruột đã đứt ra từng khúc. Từ đó, đoạn trường (đứt ruột) thường được dùng để nói nỗi đau đớn, xót thương tột độ).

Bất giác, lại nhớ đến nhà thơ Nguyễn Bính, trong một bản dịch bài thơ "Vô đề" đời Đường. Câu thơ của tác giả là:

Đoạn trường phương thảo, đoạn trường oanh

(Cỏ thơm [đau xót đến] đứt ruột, chim oanh [đau xót đến] đứt ruột).

Nhà thơ Nguyễn Bính dịch là:

Cỏ thơm xơ xác, con oanh thẫn thờ

Rõ ràng, "thẫn thờ" ở bản dịch chưa xứng được với "đoạn trường" ở nguyên bản.

4.Bài thơ "Kỷ Hợi tuế" (Năm Kỷ Hợi) của nhà thơ Tào Tùng (840-908) đời Đường, Trung Quốc là một bài thơ có tư tưởng lớn, được nhiều người đọc xưa nay đánh giá cao.

Bài thơ này có hai câu mở đầu:

Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ
Sinh dân hà kế lạc tiều tô

Nghĩa là:

Đất nước đã lâm vào cảnh chiến tranh

(Thì) người dân không thể (làm ăn bình thường) vui vẻ (như) hái củi, cắt cỏ.

Ở câu đầu, "Trạch quốc" trong tiếng Hán có nghĩa là vùng đất có nhiều ao hồ, cũng nhiều khi được dùng để chỉ quê hương, đất nước.

Tôi đọc thấy mấy bản dịch bài thơ này ở ta, có vài ba chỗ người dịch đã nhầm lẫn mà căn cứ vào cấu trúc ngữ pháp của chữ Hán, dịch "Trạch quốc" là nước Trạch. Không đúng! Ở Trung Quốc xưa nay không có nước nào là nước Trạch cả!

Hồng Diệu

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.