1.Ai cũng biết, "Chinh phụ ngâm" (hoặc "Chinh phụ ngâm khúc") là một tác phẩm văn vần của Đặng Trần Côn, viết bằng chữ Hán, được một số người dịch ra thơ Nôm.
Một trong số những bản dịch ấy lưu truyền rất rộng xưa nay, được nhiều người coi là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, có hai câu này:
Chín tầng gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh
Những câu này được dịch từ những câu thơ chữ Hán của Đặng Trần Côn:
Cửa trùng án kiếm khởi đương tịch
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân
(Vua đang dở tiệc, chống gươm đứng dậy
Nửa đêm, truyền gấp hịch cho tướng quân)
Hãy lưu ý, hai chữ "cửu trùng" của Đặng Trần Côn được dịch thành hai chữ "chín tầng" - một cách dịch có phần... tối nghĩa.
"Cửu trùng", trong tiếng Hán (có cùng nghĩa với cửu bệ) có nghĩa là chín bậc thềm lên chỗ đặt ngai vua. Từ này được dùng để chỉ nơi vua ở, và cũng được dùng để tôn xưng nhà vua.
Theo nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn trong quyển "Chinh phụ ngâm bị khảo", NXB Minh Tân, Paris, 1953 thì hiện có bốn bản dịch "Chinh phụ ngâm", (chưa kể ba bản phỏng dịch "Chinh phụ ngâm" khác.
Đọc những bản dịch "Chinh phụ ngâm" ấy, thấy ngoài cách dịch hai chữ "cửu trùng" như trên (chín tầng) còn có các cách dịch khác, là chín lần, chín đợt, bệ rồng.
Theo ý kiến của tôi, tôi nghĩ cách dịch đắc địa nhất của hai chữ "cửu trùng" ở đây là... không dịch gì cả. Lúc ấy câu thơ sẽ là:
Cửu trùng gươm báu trao tay
Đừng có ngại để nguyên từ Hán Việt trong một câu thơ dịch. Suốt cả bản dịch "Chinh phụ ngâm" quen thuộc lâu nay nhiều trường hợp đã để như thế. Chẳng hạn, xuất chinh, thê noa, đoạn trường v.v...
Tất nhiên, ta không quên rằng, dù để nguyên "cửu trùng" hay có dịch ra gì đi nữa, vẫn cần có giải nghĩa rõ, để người đọc bình thường không dùng chữ Hán vẫn có thể hiểu được nghĩa của hai chữ này.
2. Bản dịch bài thơ "Tì bà hành" nổi tiếng của nhà thơ Bạch Cư Dị, Trung Quốc, lưu truyền rất rộng ở ta, trước kia coi là của người này, người nọ, bây giờ đã được các nhà nghiên cứu xác định là của Phan Huy Thực. Nó nổi tiếng đến nỗi trên 20 bản dịch đã ra đời nhiều năm nay không bản nào sánh được.
Bản dịch bài thơ "Tì bà hành" nổi tiếng của nhà thơ Bạch Cư Dị, Trung Quốc, lưu truyền rất rộng ở ta, trước kia coi là của người này, người nọ, bây giờ đã được các nhà nghiên cứu xác định là của Phan Huy Thực. Nó nổi tiếng đến nỗi trên 20 bản dịch đã ra đời nhiều năm nay không bản nào sánh được.
Tuy vậy, bản dịch của Phan Huy Thực cũng có vài... hạt sạn. Khi tả cảnh đánh đàn của người kỹ nữ, Phan Huy Thực dịch:
Ngón buông, bắt khoan khoan dìu dặt
Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu
Dây to nhường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ như là chuyện riêng.
Chỉ đọc qua, người ta cũng thấy câu thứ tư đã thất vận (làm mất vần) trong thơ lục bát, một điều kiêng kị khi sử dụng thể thơ này.
Trong một bài giới thiệu bản dịch "Tì bà hành", tôi có mạn phép dịch giả sửa lại:
Dây to nhường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng
Tôi cho như là với khác nào, ý nghĩa gần như nhau, và khác nào đã giải quyết được chuyện vần trong hai câu lục bát.
Một lần, tình cờ đọc một bản dịch "Tì bà hành" của Phan Huy Thực in ở một quyển sách, tôi cũng thấy người giới thiệu bản dịch này chữa lại y như tôi. Có lẽ ở đây, hai "tư tưởng... nhỏ" đã gặp nhau?
Một thí dụ khác: ở cuối bản dịch "Tì bà hành" của Phan Huy Thực, khi tả quan khách nghe tiếng tì, Phan Huy Thực dịch:
Nghe não nuột khác tay đàn trước
Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi
Rõ ràng, ở câu thứ hai, cái cảnh tuôn nước lệ rơi có gì hơi thô. Các vị túc nho làm bộ sách "Thơ Đường" (NXB Văn hóa, H. 1962) đã sửa câu thứ hai thành:
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
Câu sửa lại hay hơn hẳn câu trước.
Chỉ có điều, cả hai trường hợp trên đây, những người sửa (trong đó có tôi) khi giới thiệu bản dịch của Phan Huy Thực đều không nói năng gì, để người chưa đọc bản dịch xưa coi đấy là cách dùng của Phan Huy Thực!
Với một bản dịch đã nổi tiếng mà chúng tôi làm như thế, cũng là không phải.
3.Bài thơ "Tứ xuân" của nhà thơ Lý Bạch đời Đường, Trung Quốc, có hai câu:
Đương quân hoài quy nhật
Thị thiếp đoạn trường thì
Dịch xuôi:
Khi chàng nhớ đến ngày về [quê]
Cũng là lúc thiếp [đau buồn] đứt ruột
Lần đầu, trong bản dịch thơ, tôi dịch:
Chàng mong ngày trở lại
Đúng lúc thiếp buồn tênh!
Bản dịch bài thơ đã mấy lần đăng báo, in sách. Bỗng một lần đọc lại, tôi giật mình tự nhủ: Không được! Buồn tênh ở bản dịch quá nhẹ so với đoạn trường (đứt ruột) của tác giả.
Tôi sửa là:
Khi chàng mong trở lại
Thiếp đứt ruột, héo gan!
Rõ ràng, lần này ý thơ mạnh hơn, cho dù người đọc ngày nay thấy mấy chữ "đứt ruột, héo gan" có vẻ sáo mòn. Tôi cho dịch như thế mới sát ý tác giả, và lấy bản này.
(Tiện đây, xin nói về nguồn gốc của mấy chữ đoạn trường, người Trung Hoa xưa kể rằng một lần, có người giết một con vượn con. Vượn mẹ lăn lộn, kêu gào, khóc lóc thảm thiết cho đến chết. Người ta mổ bụng vượn mẹ thì thấy ruột đã đứt ra từng khúc. Từ đó, đoạn trường (đứt ruột) thường được dùng để nói nỗi đau đớn, xót thương tột độ).
Bất giác, lại nhớ đến nhà thơ Nguyễn Bính, trong một bản dịch bài thơ "Vô đề" đời Đường. Câu thơ của tác giả là:
Đoạn trường phương thảo, đoạn trường oanh
(Cỏ thơm [đau xót đến] đứt ruột, chim oanh [đau xót đến] đứt ruột).
Nhà thơ Nguyễn Bính dịch là:
Cỏ thơm xơ xác, con oanh thẫn thờ
Rõ ràng, "thẫn thờ" ở bản dịch chưa xứng được với "đoạn trường" ở nguyên bản.
4.Bài thơ "Kỷ Hợi tuế" (Năm Kỷ Hợi) của nhà thơ Tào Tùng (840-908) đời Đường, Trung Quốc là một bài thơ có tư tưởng lớn, được nhiều người đọc xưa nay đánh giá cao.
Bài thơ này có hai câu mở đầu:
Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ
Sinh dân hà kế lạc tiều tô
Nghĩa là:
Đất nước đã lâm vào cảnh chiến tranh
(Thì) người dân không thể (làm ăn bình thường) vui vẻ (như) hái củi, cắt cỏ.
Ở câu đầu, "Trạch quốc" trong tiếng Hán có nghĩa là vùng đất có nhiều ao hồ, cũng nhiều khi được dùng để chỉ quê hương, đất nước.
Tôi đọc thấy mấy bản dịch bài thơ này ở ta, có vài ba chỗ người dịch đã nhầm lẫn mà căn cứ vào cấu trúc ngữ pháp của chữ Hán, dịch "Trạch quốc" là nước Trạch. Không đúng! Ở Trung Quốc xưa nay không có nước nào là nước Trạch cả!