Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

1. Viết về tội phạm ma túy vùng cao, tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ (NXB Công an nhân dân 2025; Giải B Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025 do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức) không dựng nên một “vụ án”, cũng không dẫn dắt theo tuyến trinh thám hay phản ánh kiểu phóng sự thường tình. Đây là tiểu thuyết về những con người dám bước vào vùng cái ác để giữ lại ánh sáng cho cộng đồng.

2aoboqxtfqgw79iavzyvuecrnd0rbmhi8szowico.jpg
Nhà văn Trần Nguyên Mỹ.

Ngay từ trang đầu, tác phẩm đã thiết lập “thế giới xô lệch” bằng một chi tiết tưởng chừng nhỏ, nhưng lại mang tính quyết định về cảm quan: “Người Mông chưa quen nói là hoàng hôn, mà quen nói trực ngôn mặt trời rơi”. “Hoàng hôn” là một khái niệm thẩm mỹ gợi sự chuyển tiếp, sự lắng xuống, thậm chí có chút lãng mạn. Nhưng “mặt trời rơi” thì khác; nó là một sự kiện vật lý, thô ráp, gần như mang tính tai ương, tai nạn, tai biến. Khi ánh sáng được cảm nhận như một thứ có thể “rơi”, thì thế giới ấy thoạt kì thủy đã bị đặt vào trạng thái bất ổn.

2. Từ huyền thoại đến tội phạm, cuốn tiểu thuyết có sự thay thế lạnh lùng về không gian. Đỉnh Pu Sam Sảu ban đầu hiện ra như một không gian đậm đặc chất huyền thoại. Những “ba ông đầu rau” - ba chỏm núi, những đoàn “quân ma”, động Hang Trấu… tất cả tạo nên một vùng đất mà ranh giới giữa người và phi nhân không rõ ràng. Điều này không phải mới trong văn học vùng cao, nhưng cách xử lý ở đây có điểm khác biệt. Huyền thoại trong tác phẩm trở thành dư chấn, tức một thứ còn sót lại, bị thực tại mới chiếm dụng. Chi tiết về những đoàn “nửa ma nửa người” lầm lũi đi qua rừng núi, với “tay thụt thò chỉa ra như là họng súng đen sì chết chóc” là một ví dụ điển hình của việc huyền thoại đã bị nhiễm màu hiện thực bạo lực.

Nhưng bước ngoặt thực sự của không gian nằm ở động Hang Trấu. Từ một nơi “ma quỷ chen chúc”, cấm kị, nó bị chiếm lĩnh và biến hình thành “thủ phủ ma túy tuyệt mật nội bất xuất ngoại bất nhập”. Huyền thoại bị xâm chiếm bởi tội phạm. Và tội phạm không phế tẩy huyền thoại, mà ẩn mình trong nó. Cái ác hiện đại vì thế không cần tạo ra thế giới riêng, mà kí sinh ngay trên thế giới đã có. Nghĩa là, huyền thoại không bị xóa bỏ, mà bị thay thế chức năng. Nếu trước đây người dân sợ động Hang Trấu vì những điều bất khả tri/ bất khả giải, thì giờ đây họ sợ nó vì quá rõ nó là gì. Điều này tạo nên một cảm giác rất lạnh, khi cái ác hiện đại không cần huyền thoại, nhưng nó sẵn sàng tận dụng huyền thoại như một lớp vỏ che chắn.

Từ đây, không gian bị chiếm lĩnh bắt đầu vận hành theo logic riêng của nó. Cái ác dần lan ra như một hệ sinh thái. Không còn cần trung tâm điều khiển, nó tự tái sinh, tự trương nở, và tự hợp thức hóa sự tồn tại của mình. Không chỉ nằm ở động Hang Trấu, nó còn xuất hiện trong quán rượu tứn khửn, trong những kẻ “tỉ phú thời gian”, trong những gia đình giàu có bất minh, trong sự im lặng của người dân…

“Người có luật của người, ma có quy luật của ma, nhưng ở Pu Sam Sảu người và ma chẳng có quy luật gì”. Đây không đơn thuần là mô tả, mà còn là một chẩn đoán. Khi một cộng đồng mất đi quy luật, thì cái ác không cần quy hoạch, không cần cơ cấu tổ chức. Nó tự sinh trưởng. Điều này khiến tiểu thuyết vượt ra khỏi khuôn khổ chống tệ nạn thông thường, để dự báo, cảnh tỉnh. Tác phẩm không dừng ở việc nói về ma túy, mà dấn sâu hơn, nói về sự rạn vỡ của cấu trúc xã hội. Và ở cấp độ này, chống lại cái ác không chỉ là việc triệt phá tội phạm, mà còn là hành trình củng cố lòng dân, khai thông dân trí, gầy dựng niềm tin cộng đồng, tái cấu trúc đời sống.

3. Song song với “thủ phủ ma túy”, tiểu thuyết của Trần Nguyên Mỹ còn dựng lên một “tiền đồn dân trí”: trường học, những người cắm bản gieo chữ giữa hiểm nguy.

Nếu tiếp cận theo lối đọc tiểu thuyết tâm lý, có thể thấy nhân vật trong “Đỉnh Pu Sam Sảu” chưa được đào sâu nội tâm theo kiểu giải phẫu tinh vi. Nhưng tác phẩm không chủ ý vận hành theo logic đó.

Tác phẩm mới của nhà văn Trần Nguyên Mỹ.

Tác phẩm mới của nhà văn Trần Nguyên Mỹ.

Trong trường cấu trúc căng thẳng của tiểu thuyết, nhân vật có lẽ là những điểm chịu lực hơn cả. Thầy Lù Cở: đại diện cho trí thức bản địa - một người Mông, hiểu vùng đất, nhiệt huyết thay đổi. Cô Nguyễn Lam: yếu tố ngoại lai - người Kinh, mang ánh sáng giáo dục.

Trong vai những thầy cô giáo vùng cao, Lù Cở và Nguyễn Lam thực hiện nhiệm vụ trinh sát nội tuyến, thâm nhập vào đời sống Pu Sam Sảu để tham gia triệt phá các đường dây ma túy ẩn sâu trong động Hang Trấu. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là tiểu thuyết không dừng lại ở mô-típ truyện nghiệp vụ đơn thuần. Càng sống lâu giữa bản làng, nhiệm vụ an ninh ấy càng mở rộng thành hành trình giữ dân, giữ bản thông qua gieo mầm tri thức. Dẫu không hoàn toàn làm chủ được hoàn cảnh, họ vẫn kiên trì bền bỉ hành động. Câu nói của Lù Cở “Chìa khóa của chúng ta là giữ dân bằng cách nâng cao dân trí” là một giải pháp, một niềm hy vọng, giữa thực tại dân trí thấp, ma túy lan tràn, người dân sợ hãi. Như vậy, ý niệm khai thông dân trí để giữ an ninh không còn là khẩu hiệu hành chính, mà trở thành một lựa chọn nhân văn, minh triết của tác phẩm.

Chi tiết “từ đây vùng cao Pu Sam Sảu mới xuất hiện mặt trời trí tuệ” tải chở một xác tín, rằng ánh sáng con chữ sẽ thay đổi đời sống; nhưng cũng truyền dẫn một nghịch lý: “mặt trời” chưa từng hiện diện một cách tự nhiên. Và như vậy, giáo dục ở đây không chỉ là mở mang, mà còn là một phương thức giữ gìn an ninh từ gốc.

4. Ngôn ngữ “Đỉnh Pu Sam Sảu” thô ráp như hiện thực, nhưng được kiểm soát chặt chẽ, tức được sử dụng với một ý thức rất rõ. Có những đoạn rơi vào diễn ngôn chính sách, khiến văn chương tạm thời lùi lại phía sau; hay có những nhân vật mang chức năng của loa phát ngôn… Nếu nhìn ở một góc khác, chính những “chênh” này lại phản ánh tác phẩm đang đứng giữa hai lực kéo: một bên là nhu cầu văn học (tạo hình, biểu tượng, nhịp điệu), và một bên là nhu cầu xã hội (phản ánh, cảnh báo, can thiệp). Phải chăng, sự không hoàn toàn thuần văn chương ở đây lại làm tăng hàm lượng tính chân thực của tác phẩm? Và chính sự “rơi” ít nhiều của phẩm tính văn chương lại vô tình phù hợp với logic chung của tác phẩm: một thế giới mà ngay cả văn chương cũng trở nên bất an trong tính tự trị của nó?

5. Tiểu thuyết của Trần Nguyên Mỹ đã vượt lên chủ nghĩa đề tài dễ dãi, để nói về sự tan rã của trật tự biểu tượng ở một cộng đồng biên viễn. Từ huyền thoại, ngôn ngữ, giáo dục đến luật lệ, mọi thứ đều bị xâm nhập. Chính vì vậy, cuộc chiến đích thực của những người công an - giáo viên trong tác phẩm là nhằm giữ cho cộng đồng ấy không rơi hẳn vào trạng thái vô quy luật.

Học giả người Pháp Georges Bataille, trong lời mở đầu cuốn tiểu luận Văn học và cái ác, đã viết: "Văn học là hình thức thể hiện rõ nét của cái ác, một cái ác theo tôi nghĩ, một giá trị tối thượng. Nhưng quan niệm này không đòi hỏi sự vắng thiếu đạo đức, nó yêu cầu một siêu đạo đức". Thiết nghĩ, đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu không nằm ở những lời khẳng quyết, mà ở niềm tin, rằng ngay trong một thế giới nơi ánh sáng có thể "rơi”, vẫn có những con người lặng lẽ gom nhặt chắt chiu ánh sáng.

Hoàng Đăng Khoa

Các tin khác

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).