Nhớ chú Hoàng Kiều và một vài kỷ niệm về ông

Cho dù ông là Nhà giáo Nhân dân, là nhạc sĩ Hoàng Kiều, giữ những chức vụ trọng trách như: Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam, Hiệu phó Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh, giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật - nhưng tôi vẫn muốn gọi ông bằng từ “chú” như ngày xưa khi còn là học trò cũng như là lính dưới quyền ông ở Nhà hát Chèo Việt Nam.

Tất cả các thầy dạy nghề cho chúng tôi thuở đầu đời khi bước chân vào nghệ thuật chúng tôi đều gọi bằng chú hết. Chú Trần Bảng, chú Hoàng Kiều, chú Tào Mạt… Những tên tuổi lớn, những người thầy lớn, những ngọn núi Thái Sơn lừng lững trong ngành chèo đối với chúng tôi, câu gọi thân thương nhất vẫn là chú mới thấy gần gũi và ấm áp tình cảm gia đình - một gia đình lớn đầy gắn bó.

Hơn thế, tôi vô cùng tự hào được là người cùng quê xứ nhãn lồng Hưng Yên với nhạc sĩ. Ông sinh ngày 12/4/1925, mất ngày 10/8/2017. Hôm nay Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam và Nhà hát Chèo Việt Nam kỷ niệm ngày ông tròn 100 tuổi bằng buổi tọa đàm về thân thế và sự nghiệp của ông thật là ý nghĩa..

Nhớ chú Hoàng Kiều và một vài kỷ niệm về ông -0
Nhà giáo Nhân dân, nhạc sĩ Hoàng Kiều.

Ông đã có những đóng góp to lớn cho ngành sân khấu dân tộc về mảng âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc truyền thống. Thời gian càng lùi xa thì sự khẳng định đó càng vững chắc. Từ một nơi rất xa trong chuyến đi thăm con gái, tôi, một học trò cũ, một người lính cũ của ông xin được gửi tới buổi tọa đàm những dòng chia sẻ cùng với lòng yêu mến, kính trọng và vô cùng biết ơn nhạc sĩ - người thầy, ngườichú của tôi và của lớp diễn viên, nhạc công khóa 1 của Nhà hát Chèo Việt Nam.

Ông là một nhạc sĩ từng tu nghiệp về âm nhạc ở Trung Quốc từ những năm 50 của thế kỷ trước, cho nên ông vô cùng chuyên nghiệp và sắc sảo trong lĩnh vực này. Các bản tổng phổ do ông sáng tác - xưa vẫn quen gọi là nhạc nền - cho các vở diễn kinh điển của Nhà hát như "Xúy Vân", "Từ Thức gặp tiên", "Phan Trần", "Máu chúng ta đã chảy"… dàn nhạc của Nhà hát dưới sự chỉ huy của ông đã làm cho các đêm diễn trở nên thật sinh động, thật tuyệt vời. Biết bao khán giả xao xuyến, đắm đuối với những giai điệu được hòa quện trong từng câu hát, từng làn điệu khác nhau của sân khấu Nhà hát Chèo Việt Nam. Nó vang lên nhiều đêm trong Nhà hát Lớn, trong các rạp của Hà Nội và đi khắp các vùng quê phía Bắc cũng như mỗi khi Nhà hát đi biểu diễn ở nước ngoài.

Ông còn viết rất nhiều sách nghiên cứu về âm nhạc dân tộc, viết nhiều các tổ hợp nhạc không lời cho dàn nhạc, còn say mê sáng tác kịch bản chèo hiện đại và làm đạo diễn nữa. Tôi cũng như các bạn cùng lớp không thể quên các nhân vật chúng tôi được đóng với các vở ông viết trong chuyến đi Trường Sơn năm 1968. Như "Cha con người gác đèn", "Những cô gái mặt đường"… Ông khi ấy mới lấy vợ được 2 năm, mới sinh con đầu lòng nhưng đã rất dũng cảm tạm biệt vợ con, giao chức Giám đốc cho người phó phụ trách để khoác ba lô lên vai làm trưởng đoàn cho lớp học sinh chúng tôi đi theo vào biểu diễn phục vụ bộ đội ở Trường Sơn.

Ông cao lớn, lại nổi tiếng trong giới, người con của Hưng Yên ngày trẻ vốn đẹp trai nhưng đám học sinh chúng tôi không hiểu sao ông lại lấy vợ rất muộn. Mãi sau có cô Bích Ngọc - diễn viên Đoàn Chèo Hà Tây đem lòng yêu mến ông chúng tôi mới thở phào sung sướng mừng cho thầy của mình, chú của mình nay đã yên bề gia thất. Ông muộn vợ nhưng lại mắn con. Trong 4 người con, tôi quen biết và quí mến người con gái út của ông nhất. Giáng Son đã nối nghiệp được cha mình. Yêu nhạc dân tộc nhưng lại học piano và chơi piano giỏi. Chị vừa hát vừa đàn và sáng tác những ca khúc rất hay mang âm hưởng nhạc truyền thống như "Giấc mơ trưa" và "Hà Nội 12 mùa hoa", "Chút nắng vàng bay", "Mưa"...

Nhạc sĩ Hoàng Kiều có vẻ ngoài nghiêm nghị, cẩn trọng nhưng ông cũng là người hài hước. Trong buổi tập vở, hễ diễn viên nào hát không đúng tiết tấu, không đúng nhịp khiến ông bực mình ông diễu lại bằng cách kéo dài giọng ra khiến tất cả phải phì cười. Chiếc đũa nhạc trưởng của ông lại gõ lách cách vào giá nhạc ra hiệu im lặng, tay ông vung lên, miệng hô: “Hát lại!”.

Gần một năm ông dẫn đoàn chúng tôi đi chiến trường thật gian khổ, vất vả trèo đèo lội suối, sương giá gió rét tránh bom đạn cũng như ngủ rừng vắt cắn. Ông luôn động viên quân lính không được nản chí, không được kêu ca: “Nhìn các anh bộ đội vào sinh ra tử mà học tập!”. Trên đường đi có trạm dừng chân là ông bắt tập vở mới. Ông phân vai cho từng người và chỉ đạo diễn xuất luôn. Lại làm nhạc cho mấy nhạc công đi cùng đoàn chơi nữa.

Chúng tôi vô cùng nể phục chú Hoàng Kiều trong chuyến đi này. Thương ông nhiệt tình, vất vả nên chúng tôi luôn dành hết những việc khuân vác, điếu đóm trên đường đi để ông được rảnh rang và đỡ mệt đôi chút.

Tôi còn nhớ trong lớp chúng tôi có hai diễn viên tay chân hậu đậu nhất đó là tôi và Thanh Hoài (nay chị là Nghệ sĩ Nhân dân của Nhà hát, chị có giọng hát hay và truyền cảm). Cũng trong chuyến đi Trường Sơn này tôi bắt đầu làm thơ. Những bài thơ đầu đời viết vội được chú Hoàng Kiều đọc trước rồi cho Thanh Hoài ngâm tại chiến trường phục vụ bộ đội và các anh thương bệnh binh. Thấy hai chúng tôi làm được việc nên ông rất quí. Nhưng không vì quý mà ông không mắng cho một trận nhớ đời do tính hậu đậu của mình.

Đoàn mang theo vào Trường sơn 2 bóng đèn lớn để nếu biểu diễn trong hang, buổi tối có máy nổ sẽ bật 2 bóng đèn này lên cho sáng cho ra vẻ có sân khấu… để bộ đội nhìn diễn viên cho rõ hơn. Khi ngang qua khúc suối, tôi vô tình đánh rơi vỡ mất một bóng khiến ông kêu toáng lên: “Đứa nào đánh vỡ đèn đấy?”. Thanh Hoài nhanh nhảu vội đáp: “Không phải cháu, không phải cháu!”.“Thế thì chỉ có cái Ngát rồi!”. Tôi sợ quá lí nhí đáp: “Vâng, là cháu ạ!". “Ôi giời ơi vỡ đèn thì còn biểu diễn cái gì nữa hở giời!” - Chú Hoàng Kiều đau khổ thốt lên. Tôi cảm thấy mình thật vô dụng, đã hậu đậu lại còn hay nhanh nhảu cầm những thứ dễ vỡ.

Hôm nay nếu còn trên dương thế, chú Hoàng Kiều đã tròn 100 tuổi. Cùng mọi người tưởng nhớ ông bằng bài viết nhỏ này với bao kỷ niệm đẹp và sâu sắc về ông - nhạc sĩ Hoàng Kiều. Nhớ ông - một thủ trưởng hết lòng vì công việc, một người thầy nghiêm khắc, một người chú gần gũi, một người đồng hương xứ nhãn vô cùng kính mến.

Sydney 5/8/2025

Nguyễn Thị Hồng Ngát

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.