Người vẽ tiền và "đôi bàn tay trắng"

Phát biểu tại buổi khai mạc triển lãm cá nhân đầu tiên (và cũng là cuối cùng của đời mình), danh họa Nguyễn Sáng (1923-1988) đã làm xúc động bạn bè thân hữu bởi một câu nói đầy biểu cảm: "Tôi chẳng có gì, ngoài tấm lòng và đôi bàn tay trắng".

Là bậc thầy ở cả hai thể loại tranh sơn dầu và sơn mài, tranh phong cảnh và chân dung, có thể nói, vượt xa những gì thuộc về giá trị vật chất, Nguyễn Sáng đã để lại một di sản tinh thần to lớn. Tên ông được ghi trong "Từ điển Bách khoa Larousse" ở Pháp và năm 1996, chưa đầy 10 năm sau khi mất, nhà danh họa đã được Nhà nước  truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật.

Không chỉ có vậy, những câu chuyện về một thời nghèo khó của người từng tham gia vẽ giấy bạc cho Bộ Tài chính hiện vẫn còn râm ran đây đó trong những lúc trà dư tửu hậu của giới hội họa...

1.Họa sĩ Nguyễn Sáng sinh năm 1923 tại TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Trước Cách mạng, ông từng theo học Trường Mỹ thuật Gia Định, Sài Gòn rồi ra Bắc học Trường Mỹ thuật Đông Dương. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia tổng khởi nghĩa ở Hà Nội. Cuối tháng 12/1946, ông lên chiến khu Việt Bắc dùng bút vẽ phục vụ kháng chiến. Các bức tranh sơn mài "Giặc đốt làng tôi", "Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ" ông vẽ hiện vẫn được xem là một trong những bức tranh ấn tượng nhất về đề tài Cách mạng và kháng chiến.

Tuy nhiên, nếu nói đóng góp đầu tiên và thiết thực nhất của Nguyễn Sáng với nền văn nghệ kháng chiến phải kể đến việc ông là người thiết kế bộ tem bưu chính đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (phát hành năm 1946, với việc thể hiện chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh) cũng như cùng một số họa sĩ tham gia vẽ mẫu giấy bạc (còn gọi là giấy bạc Cụ Hồ) cho Bộ Tài chính.  

Họa sĩ lão thành Phan Kế An đã có những nhận xét xác đáng về mảng đóng góp này của danh họa Nguyễn Sáng: "Nguyễn Sáng khi sáng tác hội họa là một tác giả có bút pháp phóng khoáng, có thể nói là tung hoành nữa, nhưng khi vẽ tem, vẽ giấy bạc lại là một nhà đồ họa vững vàng, tỉ mỉ, chính xác, biết tìm những biện pháp tối ưu, thích hợp với kỹ thuật thô sơ của thuở sơ khai...

Vậy mà, như một nghịch lý, từng có giai đoạn Nguyễn Sáng không được nhìn nhận đúng mức. Trong nhật ký ghi cuối năm 1959, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết: "Nghĩ thương hại Nguyễn Sáng. Không có thuốc để vẽ. Trong khi có rất nhiều họa sĩ có thuốc nhưng không vẽ, chỉ thỉnh thoảng giở ra để ngắm, để nghía, và thảm hơn, để đem bán. Người ta có thành kiến với Sáng", "Họa sĩ Nguyễn Sáng không có gỗ vẽ, đã phải phá cả một tấm sơn mài vẽ rất công phu hàng năm giời. Tiếc bức sơn mài ấy, ghi lại những hình ảnh phụ nữ Hà Nội quanh Hồ Gươm".

Theo nhận định của Nguyễn Huy Tưởng khi ấy, "Nguyễn Sáng là một họa sĩ có tài. Có thể nói trong số những người tài nhất của hội họa Việt Nam hiện nay".

"Kiều" - tranh sơn dầu của Nguyễn Sáng.
"Kiều" - tranh sơn dầu của Nguyễn Sáng.

2. Về đời tư của họa sĩ Nguyễn Sáng, họa sĩ Bùi Thanh Phương (con trai của danh họa Bùi Xuân Phái) từng kể rằng, trước Cách mạng, Nguyễn Sáng đã có một cô vợ là người Pháp lai. Đến khi nổ ra chiến tranh thì cô vợ lai đó rời Việt Nam về Pháp. Nguyễn Sáng sống thui thủi một mình hơn ba chục năm. Cho đến năm 1978, ông gặp một người phụ nữ tên Thủy và sau đó làm lễ thành hôn với cô. Rủi thay, đúng hôm cưới, cô dâu phải đi cấp cứu vì một bệnh mãn tính. Chú rể đành một mình đón khách, nước mắt giàn giụa. Bi kịch đâu đã hết: Ăn ở với nhau được một năm thì cô Thủy mất vì bệnh tim. Sự mất mát này đã khiến Nguyễn Sáng gần như suy sụp: "Cứ mỗi lần ngồi uống rượu với bạn hữu, khi có ai nhắc đến cô Thủy, ông lại mếu máo, than khóc, mặc dù là khi đó ông đã ngoài 60 tuổi".

Một lần khác, Nguyễn Sáng đến chơi đúng lúc gia đình họa sĩ Bùi Xuân Phái chuẩn bị bữa ăn tối. Bùi Xuân Phái mời Nguyễn Sáng ngồi ăn cùng gia đình. Trong bầu không khí ấm cúng, gần gũi và đang khi câu chuyện vào hồi rôm rả, đột nhiên Nguyễn Sáng đặt bát cơm xuống bàn, ôm mặt khóc nấc lên, tức tưởi như một đứa trẻ. Bùi Xuân Phái vỗ vai bạn, hỏi: "Sáng, cậu sao vậy?". Nguyễn Sáng đáp: "Tớ muốn có một cuộc sống gia đình như cậu đã có, tớ thèm được có một bát canh nóng mỗi ngày".

3. Cùng với các họa sĩ Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng là một cây đại thụ của tranh sơn mài Việt Nam. Tuy nhiên, sinh thời, do hoàn cảnh sống eo hẹp, nhiều lúc ông phải đem tranh đến ông Lâm toét (chủ quán Cà phê Lâm) để cầm cố lấy tiền tiêu, cũng như chọn những bức tranh ưng ý nhất của mình đem đến chỗ nhà sưu tập Đức Minh để bán.

Về giá trị quy ra tiền của tranh Nguyễn Sáng thời ấy, đã có những câu chuyện "cười ra nước mắt" như sau:

Bức tranh sơn mài của Nguyễn Sáng về Hồ Gươm bình thường vẫn được treo trên tường một căn phòng ở Câu lạc bộ quốc tế (Hà Nội). Một cán bộ phụ trách Câu lạc bộ cho đề tài bức tranh là lạc hậu (vẽ Hà Nội về đêm) nên đã dỡ xuống. Bức tranh bị tước bỏ khung và vứt một xó, một thời gian sau thì người ta gọi bán. Đạo diễn Phạm Văn Khoa đi qua, hỏi giá thấy nói khoảng 100 đồng thì mừng quá, vội chạy về nhà bán xe, bán đồ để mua. Hay tin, nhiều chuyên gia nước ngoài cũng đánh tiếng muốn mua bức tranh. Một cán bộ Rumani đã ngã giá tới 700 đồng. Đến lúc này thì người phụ trách câu lạc bộ mới giật mình, đoán là bức tranh có giá trị, bèn không bán nữa.

Năm 1984, Nguyễn Sáng tổ chức triển lãm hội họa đầu tiên (và cũng là cuối cùng) của đời mình. Trong buổi lễ khai mạc, ông đã làm bạn bè thân hữu ngậm ngùi bởi lời phát biểu của mình: "Con người lúc sơ sinh hai bàn tay trắng hiền lành. Như trẻ thơ vê tròn vú mẹ. Con người tay áp tay, trao cho nhau chiếc nhẫn, cái hôn đầu ngày cưới. Tôi chẳng có gì ngoài tấm lòng và hai bàn tay trắng". Sự thật, đến khi giã biệt thế giới (năm 1988), ông vẫn là một họa sĩ gần như... trắng tay.

Theo một số họa sĩ từng chứng kiến tang lễ của nhà danh họa kể lại, khi đọc điếu văn, nhà điêu khắc Diệp Minh Châu đã giàn giụa nước mắt kể lại câu chuyện: Ít ngày trước lúc "lên đường", Nguyễn Sáng đùa với mấy người bạn, là khi ông mất, hãy thiết kế riêng cho ông một chiếc quan tài có khoét 2 lỗ nhỏ ở hai bên. Mọi người ngạc nhiên hỏi làm vậy để làm gì? Nguyễn Sáng đáp: "Để khi tôi chết, tôi sẽ thò hai cánh tay ra ngoài, chứng tỏ cho người đời thấy rằng khi vào đời, tôi chỉ có hai bàn tay trắng và khi ra đi vẫn vậy, rằng Nguyễn Sáng giã từ cõi trần với hai bàn tay trắng".

Được biết, trước khi Nguyễn Sáng tạ thế, Đảng, Nhà nước đã quyết định tặng thưởng ông Huân chương Độc lập. Chi nhánh của Hội Mỹ thuật ở phía Nam chưa kịp làm lễ trao thì ông đã vội vã ra đi.

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, trong nhật ký của mình từng cho thấy cái bản lĩnh vững vàng, không a dua thời thượng của Nguyễn Sáng: "Khuynh hướng của Sáng: Biết chắc là những tranh "Chợ Bo", "Giặc đốt làng tôi" làm ra thế nào cũng được hoan nghênh, còn những tranh "Niềm vui" vv... thế nào cũng bị phản ứng. Nhưng cứ làm. Đời sau sẽ biết".

Trái ngược với sự lặng lẽ khi Nguyễn Sáng còn sống, hiện tranh của Nguyễn Sáng có mặt trong nhiều bộ sưu tập đắt giá trên thế giới. Các họa sĩ trẻ vẫn còn tiếp tục nghiên cứu, học hỏi được nhiều điều từ ông.

Nghĩa là ông không chỉ bị "đóng khung" trong bảo tàng mà tiếp tục đồng hành cùng cuộc sống. Và như vậy, đâu phải Nguyễn Sáng hoàn toàn "tay trắng"

Trần Phi Long

Các tin khác

Điều Ước để lại

Điều Ước để lại

Có những chuyến đi không đơn thuần là sự dịch chuyển về vị trí địa lý, mà là một hành trình tìm về những khoảng lặng tâm hồn và cả chiều sâu văn hóa. Đầu thu này, chúng tôi đã có một chuyến đi như thế!

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...