Người văn ấy trong mắt người thơ sau

Lứa chúng tôi khi về Vinh nhận công tác đã thấy nhà văn Bá Dũng tóc điểm bạc, kính trắng lịch lãm, giọng nói nhẹ nhàng, thu hút... nên đứa nào đứa nấy cứ đồng loạt gọi "chú", xưng "cháu"! Vậy nhưng trong công việc, sinh hoạt hàng ngày thì không có khoảng cách nào, dù bấy giờ nhà văn Bá Dũng đã là người nổi tiếng trên văn đàn với hơn chục đầu sách văn xuôi, kịch bản văn học, lại còn là đương kim "sếp" lớn của thành phố Vinh - Nghệ An. Một thời gian dài được cùng làm việc, sinh hoạt hội văn nghệ cùng ông, được gặp gỡ, trò chuyện với ông, tôi ngẫm ra thật nhiều điều...

1. Từ nửa đêm cho tới sáng ngày 17 tháng 9 năm 1982, cơn bão số 7 sức gió giật trên cấp 12 kèm theo mưa to, sóng lớn, triều cường bất ngờ đổ ập vào càn quét hầu hết các huyện ven biển và trung du của tỉnh Nghệ Tĩnh. Là phóng viên đài tỉnh, chúng tôi ngày đêm đi hết mọi làng trên, xóm dưới "mô tả" cảnh bão gió mưa tàn phá nhà cửa, ruộng vườn, trường học, bệnh viện… phục vụ đưa tin hàng ngày còn để làm tư liệu báo cáo cấp nọ, cấp kia, gọi là "bản báo cáo bằng hình ảnh" sinh động, thuyết phục người xem.

Người văn ấy trong mắt người thơ sau -0

Nhà văn Bá Dũng (thứ 2 từ trái sang) tiếp chuyện lãnh đạo tỉnh Nghệ An đến thăm anh em văn nghệ sỹ.

Sau đận khó khăn, vất vả đó, gặp nhà văn Bá Dũng, tôi vừa như muốn hỏi chuyện lại vừa muốn thanh minh về việc nhóm chúng tôi vừa "vấp" phải khi háo hức mang lên tỉnh trình chiếu bộ phim phóng sự về cơn bão nói trên. Tư liệu nhiều, được chọn lọc công phu, cắt dựng có ý đồ, lời bình gọn rõ…vậy mà xem xong cả nhóm bỗng bị vị lãnh đạo kia vặn hỏi: "Cấp ủy đâu, chính quyền đâu? Không hề có một tý chút mô về lãnh đạo, chỉ đạo cả? Các cậu mần ăn ra ri à ...".

Kể ra cũng "oan" cho cả nhóm khi người "đặt hàng" cho phim thì nói "cứ thống kê chi tiết, tỉ mỉ vào, mùi mẫn vào, tác động mãnh liệt vào tâm tư, tình cảm, để ta còn kêu gọi sự hỗ trợ, giúp đỡ…", trong khi người duyệt phim thì lại nghĩ khác, mong muốn khác. Thế là nhóm chúng tôi cứ phải chịu trận, cắt đi, sửa lại cho đến khi… trời yên, biển lặng!

Trong thời điểm đó, nhà văn Bá Dũng trình làng trên Báo Văn nghệ một bài bút ký viết ngay sau khi cơn bão số 7 vừa tan với một không khí, giọng điệu khác hẳn (rất tiếc là tôi không nhớ được tên bài ký đó?) Nhà văn đi về khu vực Cửa Lò, Cửa Hội, nơi bà con ngư dân ven biển vừa gánh chịu tổn thất vô cùng nặng nề về nhà cửa, thuyền lưới, chắc chắn phải mất rất nhiều công sức, tiền của mới có thể khôi phục lại sản xuất và đời sống.

Nhà văn gặp một lão ngư và nhìn ra ở con người quen "ăn sóng, nói gió" này ý chí vươn khơi, bám biển, gây dựng lại tất cả từ con số 0 và mênh mông biển cả. Rằng, với lão ngư này, khi sóng đánh hất tung tàu và lưới lên chính là lúc ý chí của ông và những người đi biển suốt đời như ông vững vàng nhất, kiên định nhất. Còn khi về lại đất liền yên tĩnh, lặng lẽ thì ông lại thấy mình như bồng bềnh, mất thăng bằng bởi vì ông không quen với điều đó, dứt khoát không bao giờ!

Nhà văn Bá Dũng cũng đã tìm về bệnh viện thành phố, không chỉ muốn tìm hiểu về những thiệt hại hay những biện pháp nhanh chóng ổn định mọi việc cần kíp nơi đây, mà ông tìm đến khoa sản, tìm đến những bà mẹ và cháu bé vừa sinh ra trong cơn bão lịch sử này. Vâng, trong giờ khắc cơn bão gầm rít, hất tung nóc nhà toang hoác, các cánh cửa trật chốt và mưa xiên mưa chéo, một công dân của thành phố vừa chào đời trong niềm vui khôn tả của kíp trực và người nhà còn ướt đẫm áo quần không rõ là do mưa bão hay những giọt mồ hôi thánh thót.

Tôi nhớ là lúc đó, nhà văn không nói gì khi tôi "trần thuật" chuyện làm phim và ngỏ ý thán phục nhà văn về bài bút ký, ông chỉ cười hiền như chia sẻ với những nông cạn, non dại của chúng tôi. Càng về sau tôi càng hiểu rằng, để có cách nhìn đó, nhà văn Bá Dũng cũng như bao người khác, đã từng trải qua vô số các trận bão của trời đất hàng năm, cũng như ông hoàn toàn không xa lạ với những người, những cảnh, những điều từng ngẫm nghĩ, viết ra để bảo vệ, chống chọi với những cơn sóng khó tính, ưa bắt bẻ của không chỉ bạn viết, bạn đọc!

2. Làm báo nghị trường như chúng tôi, nói vui là "ăn rồi đi…họp". Hễ đi họp tỉnh hay thành phố thì lại gặp lãnh đạo kiêm… nhà văn Bá Dũng! Việc nước, việc nhà hoàn thành mà việc văn, việc báo lại xuất sắc như ông kể cũng hiếm thấy.

Người văn ấy trong mắt người thơ sau -0
Một số bìa sách của nhà văn Bá Dũng.

Thực ra với Bá Dũng, khi lên bục phát ngôn trịnh trọng hay khi tâm tình thủ thỉ với bạn bè, đồng nghiệp thì hai 'vai" ấy vẫn gắn kết, hài hòa, không bao giờ  lên giọng dạy dỗ cũng như chưa bao giờ xuê xoa hoặc "diễn" nọ kia. Bởi vậy, dễ hiểu khi rời vai Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố, ông vẫn không bỏ được thói quen chiều chiều ra sân bóng chuyền "vận động ra mồ hôi, nghỉ ngơi, tắm táp, xem thời sự, đọc hoặc viết gì đó" như có lần ông nói với tôi.

Tôi biết chắc chắn rằng, nếu không đi đây đi đó, không tham gia vào bất cứ công việc to nhỏ lớn bé nào thì sau đó, ông sẽ rất khó khăn khi cầm lấy bút, hoặc cứ ngồi thừ ra trước máy tính, hoặc đóng máy lại, khép cửa lại để ra với hiện thực sôi động đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở làng biển kia, xóm đạo này như ông từng viết.

Vậy nên khi hết việc "quan", ông trở lại với công việc của một nhà - văn - chi - hội - trưởng, lo trại viết cho hội viên, cho phong trào sáng tác, lo tập hơp bài vở, in ấn, phát hành và cả chạy kinh phí cho Tạp chí Nhà văn Xứ Nghệ hay tập sách nhiều người mong mà chưa làm được là sách Nhà văn Nghệ An hiện đại.

Nhà văn đóng góp cho văn học bằng tác phẩm, đương nhiên. Những trang viết thành công hay chưa thành công của các nhà văn đều là bài học kinh nghiệm quý cho người kế tiếp. Những chi tiết hay và đắt của nhà văn Bá Dũng trong bài bút ký nọ chắc chắn đã giúp tôi rất nhiều không chỉ trong chuyện viết báo hay viết văn. Nhưng sẽ không đủ nếu quên đi những nhà văn ngày đêm lo cho phong trào sáng tác, vun vén, động viên từng cây bút khi họ còn chập chững, khuyến khích họ tham gia các hoạt động hội và tạo "đất" cho mọi tài năng nảy nở, đơm hoa kết trái. Ở khía cạnh này, tôi tin chắc chắn rằng, nhà văn Bá Dũng có những đóng góp không nhỏ cho lớp nhà văn kế tiếp, trong đó có tôi và con trai tôi ngay từ ngày đầu về quê công tác và tham gia hoạt động văn học.

3. Tôi là người mang ơn ông nhiều thứ và đã không bao giờ trả hết được. Ngày tôi được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Bá Dũng với tư cách là Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Nghệ An đã đến cơ quan tôi chúc mừng và lấy bài, tư liệu để kịp giới thiệu trên Tạp chí Nhà văn Xứ Nghệ số mới nhất. Ông tận tình với tôi, với mọi người đến thế, vậy mà có lần tôi đã… không nghe lời ông! Dù chuyện riêng đã lâu nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại để lòng được vơi nhẹ. Đó là khi tôi chưa lập gia đình, có lần ông nói vừa thật vừa vui vui: "Cơ quan chú có cô bé, chú đoán có thể hợp với cháu, chú làm mối nhé?". Tôi "dạ" nhưng cứ nghĩ chú nói vậy vậy thôi, không để ý và ít lâu sau thì mang thiệp mời chú dự đám cưới! Đông khách nên chú cháu cười trừ, qua chuyện. Sau này, có lần chú ghé tai tôi, rằng "cô bé đó vẫn hay lắm, thỉnh thoảng trách chú là ông mối hụt đấy".

Lần thứ hai là một chuyện về bóng đá. Ông rất thích xem bóng đá ở sân Vinh. Quen thắng sân nhà nhưng bỗng nhiên hôm đó Sông Lam Nghệ An thua trận, một số khán giả quá khích đuổi đánh trọng tài, để lại hình ảnh vô cùng xấu xí trong mắt người hâm mộ. Ra về, cùng đi bộ ra phố, ông nhắc tôi: "Cháu làm báo, phải đấu tranh đến cùng với sự việc này. Không thể để công sức bao nhiêu người mới có được bỗng chốc đổ sông đổ bể chỉ vì một vài người thiếu suy nghĩ…".

Đúng là rất nhiều lần gặp ông, tôi chỉ thấy lần đó ông lộ vẻ cáu giận thực sự trước mọi người. Tôi lại cứ vâng dạ nhưng rồi chẳng làm đến nơi đến chốn, khiến ông gọi điện hỏi và nhắc nhở…

Mới đó mà chú Bá Dũng của chúng tôi đã đi xa hơn chục năm rồi.

Ngày Hội Văn nghệ Nghệ An và Thành ủy Vinh tổ chức Tọa đàm văn xuôi Bá Dũng, tôi đến muộn vì công việc và cũng không có bài tham luận vì thấy không đủ sức viết. Ngày tiễn ông rời cõi tạm, đoàn Hội nhà văn Việt Nam do các nhà văn Đào Thắng, Nguyễn Hoa, Nguyên An vào viếng, nhập cùng đoàn người xe lặng lẽ, không nói nên lời. Các nhà văn đều hiểu rằng, Hội, Chi hội, giới văn nghệ đã vĩnh viễn mất đi một con người đáng kính trọng, hết lòng xây dựng hội và phong trào sáng tác, một bút lực đang hồi sung mãn!

Tôi ghi lại những dòng này, để nhớ và biết ơn một nhà văn đi trước, một người không mệt mỏi vì thế hệ kế tiếp, người tôi luôn kính trọng gọi chú, xưng cháu trong đời viết, đời người…

Bùi Sỹ Hoa

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.