Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Thái Kim Đỉnh:

Người Nghệ đa tài

Tính đến thời điểm này, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Thái Kim Đỉnh (SN 1926) đã cho xuất bản hơn 90 đầu sách, trong đó có gần 30 cuốn in riêng và chủ biên, hơn 60 cuốn viết chung và in chung. Ông cũng là tác gia nổi tiếng với các tác phẩm "Truyện dân gian Nghệ Tĩnh", "Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ", "Thơ văn quanh Truyện Kiều" "Tác giả Hán Nôm Nghệ Tĩnh", "Từ điển tiếng Nghệ"...

Hôm tôi tìm đến ngôi nhà nhỏ của Thái Kim Đỉnh trong con ngõ nhỏ trên đường Xuân Diệu của TP Hà Tĩnh, ông đang miệt mài "soi" lại những tư liệu mà bản thân còn lăn tăn, say sưa đến độ khách vào đến tận bàn làm việc, ông mới phát hiện ra để rời trang sách. Tính ông xưa nay vẫn vậy, làm việc đến quên cả thời gian và tuổi tác, như chính lời giãi bày của ông sau đó trong cuộc trò chuyện, rằng chỉ có hai thứ khiến ông tâm huyết, ấy là sách và bạn hữu.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Thái Kim Đỉnh.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Thái Kim Đỉnh.

Sách thì đã rõ, được minh chứng qua nhiều đầu sách mà ông đã tâm huyết suốt cả đời người. Mỗi công trình, con chữ của Thái Kim Đỉnh là một sự trăn trở, tỉ mẩn và cầu toàn đến cả từng dấu chấm, phẩy. Số sách còn lại còn khoảng vài ngàn cuốn, số sách mất đi cũng rất nhiều. Ông bảo, vẫn tiếp tục mua thêm sách, dù mọi người ra sức khuyên bảo.

Còn với bạn bè, ông bảo, đến độ tuổi như ông, giờ phút này bạn văn chương cũng đã bỏ đi gần hết, khiến ông nhiều lúc cứ bâng quơ dự cảm về tuổi tác và sự kết thúc đời người. Chỉ sợ, thời gian không đủ, sức khỏe không còn để kịp hoàn thành những dự định còn dang dở.

Ký tặng tôi cuốn sách mới xuất bản có tựa đề "Bốn thi sĩ trong phong trào thơ mới" (NXB Hội Nhà văn - 2016), ông bảo đó là tác phẩm tâm huyết và thai nghén trong thời gian rất dài, bởi 4 nhà thơ được nhắc đến trong cuốn sách, gồm Thái Can, Huy Cận, Xuân Diệu và Quỳnh Dao đều là "Những đứa con quê hương ví, dặm".

Song song với việc cho ra đời tác phẩm này, với sự giúp đỡ của tỉnh Hà Tĩnh, đang gấp rút để hoàn thiện và cho ra lò "Tuyển tập Thái Kim Đỉnh", gồm 7 tập. Hiện nay, tập V đã được NXB Đại học Vinh ấn hành, có tựa đề "Truyện Kiều và thơ văn quanh truyện Kiều". Các tập còn lại, sẽ được in nốt trong năm nay. Ông bảo, trong tuyển tập này có nhiều nghiên cứu đã được công bố, nhưng lần in này gần như ông viết lại hoàn toàn. Riêng tập VII là tuyển tập những bài thơ, văn mà ông đã sáng tác nhưng chưa từng công khai hoặc chưa in ấn, lần in này đơn giản chỉ muốn để dành tặng cho bản thân mình.

Lạm bàn về chuyện thơ, Thái Kim Đỉnh chia sẻ, ông khởi nghiệp là làm thơ, và với bút danh Vũ Hoàng, những năm kháng chiến chống Mỹ, ông đã có nhiều bài thơ được lính trẻ chép tay nhau trước khi ra chiến trường, trong đó có những câu như "Thành phố ta tre còn nhiều hơn sắt/ Trên đồng quê trâu hì hục kéo cày/ Bới hạt cơm máu bẫm đầu tay…".

Năm 1975, Thái Kim Đỉnh cho in tập thơ "Nhịp cầu - Cỏ mật" rồi bẵng luôn trên văn đàn thi ca, cái tên Vũ Hoàng cũng biến mất không dấu tích. Hỏi, vì sao không làm thơ nữa, ông cho rằng, nói ông không còn làm thơ là chưa đúng, bởi thực tế thì cho đến giờ phút này, ông vẫn thi thoảng làm thơ, chỉ có điều không coi thơ là chính và không công bố mà làm để giữ lại cho riêng mình. Bản thân ông xuất phát điểm là thơ ca, gia nhập Hội văn học nghệ thuật cũng từ thơ ca. Hồi ấy, làm thơ là để tuyên truyền cho nhân dân dễ hiểu.

Ông bảo, mình là cán bộ tuyên truyền, làm thơ thường không tinh tế, dễ bị lôi cuốn vào tuyên truyền, mà thơ như vậy là không ổn. Thơ chủ yếu là tuổi trẻ, về già cảm thụ xơ cứng nên dừng bút. Sinh thời, nhà thơ Trần Hữu Thung, sau khi đọc thơ Thái Kim Đỉnh, đã có lời khuyên rất chân thành, rằng bạn nên dành ra mấy năm để sửa và in ấn mấy tập thơ mới ở dạng bản thảo, nhưng ông đã không làm.

Những người am hiểu về con người và tính cách Thái Kim Đỉnh thì đánh giá rằng, ông là người tự biết mình. Nghĩa là, ông nhận thấy cái gì không thuộc về thế mạnh của bản thân thì bỏ, không sân siu, tiếc nuối. Đơn cử như cái chuyện làm thơ, tôi vẫn còn nhớ, cách đây 15 năm về trước, thạc sĩ Nguyễn Phan Thắng, lúc bấy giờ đang là phó tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Nghệ An, đã tếu táo mà rằng, nếu còn tồn tại một Vũ Hoàng trên thi đàn văn chương, thì khó lòng mà có được một Thái Kim Đỉnh như hôm nay.

Cũng giống như, chuyện bạn bè ông vẫn thường bảo, ông là người đi bộ ba phần tư thế kỷ, bản thân không biết đi xe đạp, không biết đi xe máy. Ông thật thà bảo, tập xe máy từ năm 16, 17 tuổi nhưng mãi đến 50 tuổi vẫn không đi được, hễ ngồi lên xe là thấy không ổn nên bỏ quách đi. Đi đâu, ông cũng có người đưa đón, ở Hà Tĩnh cũng như ở TP Vinh (Nghệ An), ông luôn có những người "lai" (chở) chuyên nghiệp và đó là những người bạn văn, bạn nghiên cứu.

Thái Kim Đỉnh là người cẩn trọng và nghiêm túc trong công việc, những tư liệu khoa học của ông bao giờ cũng có độ tin cậy bởi sự chính xác cao. Có những công trình ông mất rất nhiều thời gian để nghiên cứu, kiểm chứng trước khi in ấn. Có những tư liệu về "Truyện Kiều", ông dày công soạn từ những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, nhưng đến năm 2010 ông mới công bố rộng rãi, sau hơn 30 năm thai nghén. Tính đến thời điểm này, nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh đã có trên 90 đầu sách các loại, trong đó khoảng 30 đầu sách in riêng, còn lại là chủ biên, in chung và soạn chung.

Một trong 7 cuốn sách thuộc "Tuyển tập Thái Kim Đỉnh" vừa được ấn hành.
Một trong 7 cuốn sách thuộc "Tuyển tập Thái Kim Đỉnh" vừa được ấn hành.

Ngoài ra, hiện vẫn còn 6 tác phẩm chép tay hoặc đã đánh máy nhưng chưa có điều kiện in hoặc chưa muốn công bố. Với ông, tác phẩm nào cũng là một sự tâm đắc, bởi ông viết cái nào cũng để công, và mất nhiều thời gian, tâm sức. Ví như bộ sách "Làng cổ Hà Tĩnh" (2 tập), lẽ ra phải viết thêm một tập nữa mới vẹn tròn và đủ đầy, nhưng không còn sức khỏe nữa nên đành dừng lại, dù rất tiếc vì đây là công trình bỏ ra nhiều tâm huyết nhất. Hay như trong 6 bản địa chí các huyện (trong đó ông chủ biên 4 cuốn), để hoàn thiện từng cuốn, ông đã phải bỏ ra suốt 3 năm trời để nghiên cứu, biên soạn.

Ngoài ra, còn có một số tác phẩm tâm huyết khác như "Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ"; "Truyện dân gian Nghệ Tĩnh" (2 tập)… 

Ở Hà Tĩnh nói riêng và xứ Nghệ nói chung, từ trước đến nay, có lẽ chưa ai vượt qua được Thái Kim Đỉnh về khả năng nắm giữ tư liệu lịch sử, văn hóa và văn hóa dân gian, đặc biệt là Folklore Hà Tĩnh. Ông chia sẻ, để có được ngần ấy kiến thức, ông đã đặt chân đến hầu hết mọi ngõ ngách của phố thị lẫn làng quê. Tích cóp, nhặt nhạnh, sàng lọc và chắt chiu trọn cả đời người để tuyển lựa ra những gì tinh túy nhất của văn hóa quê nhà, đặng đưa vào các công trình nghiên cứu.

Sở dĩ Thái Kim Đỉnh như kho tàng sống của Hà Tĩnh, là bởi ông tiếp thu văn hóa quê nhà từ nhiều góc độ khác nhau như sử học, văn học, ngôn ngữ học, văn bản học, khảo cổ học, dân tộc học và Folklore. Ông tâm sự, thuở nhỏ không được học hành tử tế nên suốt cuộc đời làm việc của mình, ông luôn tâm niệm phải xuất phát từ cái tâm và làm việc gì cũng phải cẩn trọng, có khoa học. Bản thân ông chưa từng học qua trung học, nhưng khi cùng với nhà thơ Trần Hữu Thung soạn chung cuốn "Từ điển tiếng Nghệ", dù chỉ dựa trên kinh nghiệm nhưng công trình được đánh giá là tổng hòa của các lĩnh vực ngôn ngữ học, từ điển học, văn bản học và Folklore.

Hay như khi cùng với PGS.TS Ninh Viết Giao biên soạn cuốn "Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ" (4 tập), ông đã được Ninh Viết Giao đánh giá: "Thái Kim Đỉnh đã đặt những viên gạch đầu một cách chững chạc. Không ồn ào, không khoa trương, lao động trí tuệ một cách cần cù và khiêm tốn… để đưa đến cho người đọc ở quê hương món ăn tinh thần bổ ích".

Ngoài 90 tuổi, Thái Kim Đỉnh vẫn cần mẫn bên những con chữ, dù mắt ông đã không còn tinh tường. Ông cho rằng, cái khó và cũng là thách thức hiện nay là dù tuổi già nhưng vẫn phải tiếp cận cái hiện đại mỗi ngày để không bị lạc hậu, nhưng tiếp cận như thế nào và ở mức độ ra sao thì lại là chuyện không hề dễ. Mỗi ngày, ngoài số sách báo, tạp chí được biếu tặng, ông vẫn đặt qua bưu điện 7 đầu báo các loại để nắm bắt thông tin thời sự, cũng là kênh thông tin để luôn làm mới bản thân mình.

Ông có 6 người con nhưng không ai theo nghiệp văn của bố, chỉ cô con gái út mà hiện sống chung nhà, thi thoảng giúp ông chép bản thảo, đánh máy chữ là gần gũi với công việc của ông hơn cả. Cuộc đời riêng của ông thiếu may mắn khi người vợ đầu tiên chẳng may qua đời sớm, nhưng người vợ thứ hai luôn là bạn đồng hành với ông, chia sẻ kể cả lúc thăng, lúc trầm của công việc. Ông vẫn thường tếu táo với bạn bè, cả hai bà vợ đều có ảnh hưởng rất lớn đến công việc của bản thân, nếu như người vợ quá cố giúp mình có điều kiện để học thì vợ hiện tại lại giúp mình để làm việc.

Bản thân ông vẫn chưa muốn nghỉ ngơi, dù có lúc phải đấu tranh với sức khỏe, bệnh tật hành hạ nhưng nghĩ đến công trình còn dở dang, ông lại vùng dậy, lọ mọ soi chữ. Ông bảo, không phải ông không tin vào thế hệ trẻ, nhưng vốn sống, vốn hiểu biết của lớp trẻ chưa nhiều nên ông đang cố làm vớt, chạy đua với thời gian để giữ lại cho thế hệ sau những tư liệu quý giá nhất. Cũng bởi vậy, ông gần như không có ngày nghỉ, không lễ, tết và chỉ chịu buông bút khi nào mệt mỏi, những lúc trái gió trở trời.

Thiên Thảo

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.