Người đi cùng dân gian

Một lần tôi thấy ông ngồi im lặng bên cái bàn gỗ cũ kỹ, trong căn phòng ngập tràn ánh sáng trắng giữa hàng ngàn cuốn sách nặng trĩu những cuộc đời, con người…đang im lặng níu vào nhau, chen nhau bốn phía chung quanh. Tôi có cảm giác sự im lặng kia đang kéo ông lùi xa vào đâu đấy trong quá khứ cách xa muôn trùng với phố xá nhốn nháo, ồn ào thời kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập…

Sau lần ấy, nhiều lần nữa tôi đến nhà ông. Lần nào cũng vậy, nắng hay mưa, nóng hay lạnh thì ngôi nhà nhỏ bé và căn phòng chật chội sách vẫn đưa đến cho tôi một cảm giác về một cái gì đó vừa bí ẩn, vừa gần gũi, vừa xa xôi. Tôi bị ông ám ảnh và tôi đã không nguôi được những suy ngẫm về ông.

Ông là người ít ngao du, ít xuất hiện ở chốn đông người, ít bia rượu và hầu như không tham gia vào những luận bàn về thời cuộc. Mỗi lần ra khỏi nhà ông, tôi mang theo cái không khí lặng im và dăm, bảy mẩu chuyện ông kể một cách dè sẻn. Tôi đã chắp nối chúng lại với sự trân trọng của kẻ đi sau.

Lặng lẽ một dòng Di sản văn hóa Thái Kim Đỉnh -0
Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Thái Kim Đỉnh.

… Trước cách mạng tháng 8-1945, khi tôi và lớp nhà văn chống Mỹ mới ra đời, Thái Kim Đỉnh đã làm Bí thư Thanh niên cứu quốc. Ông tham gia Ủy ban khởi nghĩa, Ủy ban kháng chiến xã, gia nhập Đảng Cộng sản đầu năm 1946. Năm 1947 lên Phòng Tuyên truyền huyện Đức Thọ.

Rồi từ ấy, Thái Kim Đỉnh làm đủ việc, những thứ việc không dính dáng gì đến Văn nghệ dân gian, đến văn chương, học thuật: Ban liên lạc Bắc Trung bộ, Bưu điện Liên khu 4, Công đoàn, Thanh niên Việt Nam huyện, Hội đồng cung cấp Trung Lào, Công trường Đê La Giang, cán bộ Ty tuyên truyền… đến cả việc đi thu gom sách của địa chủ trong Cải cách ruộng đất…

Người ta nhìn ra cái gì trong bản tính của ông, ông không biết, chỉ thấy niềm tin họ đặt lên vai ông nặng trĩu. Người ta cử ông đi nơi này, nơi kia, làm việc này, việc nọ. Sau chục năm sống ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Thái Nguyên, bạn bè thấy ông thực thụ là một công chức mẫn cán, còn ông thì lại thấy mình chưa ở yên chỗ nào, chưa làm việc gì chuyên nghiệp.

Ông nói với tôi rằng, những năm tháng ấy xét cho cùng ông là kẻ lang thang và công việc có ý nghĩa nhất của ông là gom nhặt tri thức dân gian đang giấu mình trong sách vở, trong đời sống bình dân nơi thôn dã, kể cả của nả tinh thần thiên hạ để rơi rụng chỗ này, bỏ quên chỗ kia.

Mãi năm 1958, Thái Kim Đỉnh mới đặt chân vào giới văn nghệ với cái chức tổ trưởng Tổ sáng tác Văn nghệ của Ty Thông tin, thực thi đầy đủ nghĩa vụ của một viên chức Biên tập, xuất bản. Biên tập xuất bản Tập san Văn hóa quần chúng, Tập san Văn hóa Hà Tĩnh, Tập san Sông La. Năm 1970, ông trở thành Hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và lần thứ hai có thêm chức Trưởng tiểu ban Văn nghệ dân gian Hà Tĩnh.

Vậy là ông có thêm một bản lý lịch. Bản lý lịch của những yêu thương, những say mê và những giấc mơ: Người nghiên cứu Văn hóa, Văn nghệ dân gian. Ông nói với những người trẻ tuổi rằng, ông thừa hưởng gia tài tri thức của người bác ruột uyên thâm Nho học, biết ít nhiều Tây học và cả tính cách thầm lặng của một ông đồ; rằng, những bước đi chập chững ban đầu của nghiệp văn hóa, văn chương ông may mắn, hạnh phúc gặp được những người vừa là thầy, vừa là bè bạn uyên bác, thâm nho như Nguyễn Đổng Chi, Trịnh Xuân An, Xuân Tửu, Hồ Tôn Trinh, Thanh Minh, Hoàng Nguyên Kỳ, Trần Hữu Thung, Ninh Viết Giao…

Ông nói những điều trên với một tâm trạng phấn chấn nào đấy. Tôi thấy gương mặt ông sáng lên và mắt ông rưng rưng. Người ta ca ngợi nhiều về vẻ đẹp của quan hệ thầy trò, của tình bè bạn trong giới văn nghệ thế hệ chống Pháp, chống Mỹ, nhưng còn ít lời bàn cho thấu nhẽ. Tôi nói điều ấy với ông, ông bảo bàn về cái tâm, cái tình nó vô cùng lắm, nó khó lắm. Rồi thêm là thời ấy có ít giả dối, đố kỵ, thời ấy nhiều người muốn làm học trò, chịu làm học trò. Nghe ông nói, bất chợt một suy nghĩ nhói lên trong lòng tôi: Sự thật là thế mà đã mấy ai chịu thấy thế. Văn hóa, văn nghệ sẽ ra sao nếu không một ai muốn làm học trò.

Lặng lẽ một dòng Di sản văn hóa Thái Kim Đỉnh -0
Ông là một người lặng lẽ tận hiến cho công việc.

Sinh ra ở làng Trường Xá, xã Đức Châu, phía Bắc giáp sông Lam, phía Nam giáp sông La, cái nôi của các làn điệu hát ví, hát giặm cổ truyền, của hội làng, của làng nghề truyền thống Xứ Nghệ. Lúc nào đấy, có chút men rượu, ông hé lộ cho tôi biết ông từng theo phường Bè lênh đênh trên sông Lam, sông La từ Đô Lương về Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên sang Hương Sơn, Đức Thọ… giữa mênh mang trời nước và ăm ắp giọng hò, giọng ví.

Văn nghệ Dân gian cám dỗ ông từ dạo ấy. Và như đã nói, ông được làm học trò của những người thầy có tên tuổi và cả không tên tuổi, học trò của dân gian, ông sớm có sự cẩn trọng, sâu sắc của nhà nghiên cứu, sự đa cảm của một nghệ sỹ. Và cùng với trí nhớ tuyệt vời, ông dựng dậy các Lễ hội, kể lại những gì cha ông đã kể từ thuở khai thiên tịch, ông khảm khắc lại những gì cha ông đã xây đắp trên mặt đất đầy biến động suốt hàng ngàn năm.

Ông miêu tả môi trường diễn xướng các làn điệu dân ca cổ truyền rồi thức chúng dậy bằng ngôn từ chân xác và thấm đẫm phong vị dân gian. Những Ca trù Cổ Đạm, Ví Phường vải Trường Lưu, Hát Giặm Thạch Hà, Ví Sông Lam, Ví Sông La, Sắc bùa Kỳ Anh, Hò Thạch Khê… Và rồi chính chúng trở lại dạy ông, cảm hóa ông, chung sống với ông hài hòa, vui vẻ và cả dằn vặt, đớn đau.

Từ năm 1970 mãi về sau này, ông liên tục có công trình, tác phẩm Nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian, Địa chí, Lịch sử, Dịch thuật, Văn học… Bắt đầu từ tập Truyện Dân gian: “Cá gáy hóa rồng” in năm 1972 đến “Chùa Hà Tĩnh” (Khảo cứu văn hóa) in năm 2016, ông đã cho ra mắt bạn đọc 90 tác phẩm in riêng, chủ biên, in chung, soạn chung và 14 tác phẩm chép tay hoặc đánh máy vi tính xếp trên tủ gỗ cạnh bàn làm việc.

Tôi chợt nhớ ông từng in thơ với bút danh Vũ Hoàng. Những câu thơ ngọt ngào, đằm thắm: “Chiều chiến trường mông mênh/Một ngôi sao đã hiện/ Ngôi sao xanh lấp lánh / đợi anh đầu làng/Cỏ mật thơm lừng không gian”. Và đau đời nữa: “Giữa mùa nước sóc tháng ba/ Bọt bèo thì nổi, phù sa thì chìm”. Văn thì “Kiếp ba đào” phảng phất hương vị văn chương lãng mạn những năm 30-45, chứa đựng bao trắc ẩn thân phận con người.

Ông nói ông còn hai tập thơ “Ký họa năm tháng”, “Nhật ký người đi bộ” trên hai trăm bài, mấy cuốn địa chí huyện, xã, mấy tập sách dịch chữ Pháp, chữ Hán và một chuỗi bài nghiên cứu làn điệu Dân ca Nghệ Tĩnh chưa in được. Nhọc nhằn lắm mới làm ra một khối lượng chữ lớn như thế. Ông là con người của công việc, của những quan tâm đến mê đắm, của những phụng thờ linh thiêng các giá trị văn hóa truyền thống được cha ông tái tạo, gìn giữ chuyển tiếp dọc quá khứ của dân tộc.

Những cái ấy bây giờ ta gọi là di sản văn hóa. Di sản văn hóa và những gì mang bản chất của văn hóa đã cho ông nghị lực và khát vọng sống mãnh liệt. Ông mang vẻ đẹp của di sản trong lòng để đi, đọc, xem, suy ngẫm, hình dung, tưởng tượng, ghi chép… Không biết cưỡi xe đạp, xe máy, không ngồi ôtô, ông chỉ mỗi đi trên đôi chân của mình, một đôi chân trần, bụi bặm, có lúc tứa máu.

Tính đến nay, ông đã đi bộ gần thế kỷ, suốt cuộc đời, dọc quá khứ của xứ sở ông, qua những hiện thực ngổn ngang những vui sướng, khổ đau. Tôi thấy ra, rõ ràng bàn chân trần ấy, in dấu ở đất, đá, vôi vữa, địa y, rêu và cỏ… đây, đó, xa, gần. Và dưới tất cả những cái đó, lặng lẽ một dòng Di sản văn hóa

miệt mài chảy, lặng lẽ một tình yêu người anh em, tình yêu quê hương, đất nước, lặng lẽ một cuộc kiếm tìm những giá trị truyền thống, không ngưng nghỉ, nguôi ngoai những suy ngẫm sâu sa về lẽ đời, nẻo người.

Lúc tôi viết những dòng này, Nhà xuất bản Trẻ vừa in xong cuốn sách thứ 90 của ông: “Hà Tĩnh - Đất văn vật Hồng Lam”. Đấy là một phác họa chân dung vùng đất Hà Tĩnh “giang sơn tụ khí”. Tôi chợt nghĩ, ông đã phác họa bao nhiêu chân dung chung quanh ông mà đã có ai phác họa tử tế chân dung ông. Ông như không quan tâm tôi đang nghĩ gì. Run run những ngón tay gầy trên bìa sách, ông nói, cuốn này tôi viết cả đời và cuốn nào cũng thế, cũng viết cả đời… Nói xong thì mỉm cười, rồi rót nước trong cái ấm sứ đặt trong cái giỏ tre ra hai bát sứ, xong bước khẽ đến ngồi xuống cái ghế gỗ có tựa. Lặng lẽ.

Đức Ban

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.