Nghệ nhân Ưu tú Vy Thị Liên: Người “phục hưng” lượn Tày xứ hồi

Đứng trước nguy cơ thất truyền hát lượn của dân tộc Tày ở huyện Văn Quan (tỉnh Lạng Sơn), Nghệ nhân Ưu tú Vy Thị Liên đã có nhiều hoạt động bảo tồn, gìn giữ lối hát này, như: truyền dạy cho các CLB, cho học sinh Trường THPT Lương Văn Tri, xây dựng kho tư liệu bằng băng đĩa VCD, văn bản và biểu diễn hát lượn tại các chương trình, ngày hội văn hóa của huyện...

Với những nỗ lực không biết mệt mỏi của bà, hát lượn đã thực sự được “phục hưng” trên quê hương xứ hồi.

Nhắc đến Nghệ nhân Ưu tú Vy Thị Liên là nhắc đến một kho tàng âm nhạc Tày quý giá của huyện Văn Quan nói riêng và tỉnh Lạng Sơn nói chung. Kho tàng ấy được nghệ nhân tích lũy từ những năm tháng tuổi thơ, cho đến tận ngày nay vẫn không ngừng trau dồi và bồi đắp. 

Bà không chỉ là một nghệ nhân, nghệ sĩ có giọng hát vàng và vốn âm nhạc Tày có bề dày, phong phú mà còn là một nhà giáo giàu lòng nhiệt huyết. Bà cũng chính là nghệ nhân duy nhất của huyện Văn Quan và là một trong 3 nghệ nhân của tỉnh Lạng Sơn được đề nghị xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân trong đợt xét duyệt tới đây.

Nghệ nhân Ưu tú Vy Thị Liên (giữa) biểu diễn tại Trường THPT Lương Văn Tri (huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn).
Nghệ nhân Ưu tú Vy Thị Liên (giữa) biểu diễn tại Trường THPT Lương Văn Tri (huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn).

“Chìa khóa” đưa bà đến với công việc vô cùng thú vị này bắt đầu từ năm 1972, khi bà được mẹ cùng chị gái truyền dạy hát then, lượn slương... của dân tộc Tày. Sau đó không lâu, bà được Đài Phát thanh khu tự trị Việt Bắc, Đài Phát thanh tỉnh Lạng Sơn mời thu thanh một số bài dân ca và đó cũng là "bước đệm" để bà về phụ trách dân ca tại Ty Văn hóa Lạng Sơn rồi Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Văn Quan. 

Đặc biệt, bà được tham gia tập huấn hát then, đàn tính của Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Văn Quan, do nghệ nhân nức tiếng Linh Noọng truyền dạy. Đó là cơ hội tốt để cung cấp kiến thức một cách bài bản, kỹ lưỡng rồi cùng với quá trình miệt mài, bền bỉ, bà đã tự tập luyện hát then, đàn tính và các làn điệu dân ca địa phương.

Cái tên Vy Thị Liên được biết đến nhiều hơn khi bà thường xuyên tham gia hội thi, hội diễn cấp tỉnh và giành được không ít giải thưởng cao, như: Huy chương Bạc tại Liên hoan tiếng hát Sơn Ca toàn quốc năm 1995, Huy chương Vàng tại Liên hoan nghệ thuật quần chúng tỉnh Lạng Sơn năm 1995, Huy chương Vàng tại Liên hoan nghệ thuật và trình diễn trang phục dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 1997, Giấy khen của Sở Văn hóa-Thông tin Lạng Sơn tặng “Người hát dân ca hay nhất” tại Hội thi đơn ca toàn tỉnh năm 1998... 

Ngoài ra, bà đã trực tiếp xây dựng kịch bản, tập luyện cho các đoàn tham gia Hội thi cấp tỉnh như: Hội thi văn nghệ các dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 1996 giành Giải A, Hội thi Văn nghệ nông dân tỉnh Lạng Sơn năm 1998 giành Giải Nhất, Liên hoan Đội văn nghệ cơ sở tỉnh Lạng Sơn năm 2001 giành Giải Nhất…

Không chỉ tham gia biểu diễn, dàn dựng, bà còn hoạt động như một nhà nghiên cứu văn hóa. Năm 2002, bà tham gia mạng lưới bảo tồn tri thức văn hóa bản địa (CSDM), được sự quan tâm của CSDM mà năm 2004 bà đã tham mưu cho lãnh đạo huyện Văn Quan tổ chức Hội thảo tìm hiểu vốn dân ca Tày-Nùng huyện Văn Quan, thu hút trên 100 nghệ nhân tham gia. 

Với mong mỏi được gìn giữ, phát triển dân ca trong đời sống, bà đã tiếp tục tham mưu cho lãnh đạo huyện tổ chức Liên hoan hát dân ca các CLB văn nghệ cấp huyện hằng năm. Bản thân, bà cũng đã tham gia Hội thảo tìm hiểu, nghiên cứu tri thức văn hóa bản địa tại huyện Chi Lăng (tỉnh Lạng Sơn) gồm các nước Việt Nam, Thái lan, Trung Quốc, Malaysia, Ấn độ, Hà Lan và tham gia xây dựng chương trình Ngày Hội văn hóa các dân tộc tỉnh Lạng Sơn...

Tháng 12-2010, được nghỉ chế độ hưu trí, thế nhưng bà vẫn tiếp tục tham gia các phong trào văn nghệ tại địa phương cũng như xây dựng các chương trình tham gia hội thi cấp tỉnh… Với những cố gắng, nỗ lực của mình trong công tác giữ gìn, bảo tồn di sản văn hóa, năm 2015 bà vinh dự được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú. 

Được vinh danh, bà càng thấy trách nhiệm hơn trong công tác bảo tồn giá trị di sản văn hóa để tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức cùng bảo vệ, phát huy di sản văn hóa. Muốn vậy, bà quan niệm việc thành lập và tham gia giảng dạy cho bà con, nhất là người trẻ là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, bởi xã hội hiện đại với những luồng văn hóa mới dễ làm người ta quên đi những giá trị văn hóa cổ xưa. Từ năm 2015 đến nay, bà đã truyền dạy hát then, đàn tính và các làn điệu dân ca cho hơn 500 học viên ở nhiều xã, cơ quan trong và ngoài huyện.

Trong nhiều di sản văn hóa phi vật thể đang nắm giữ như: Hát then, hát lượn, hát ru dân tộc Tày-Nùng, hát quan làng, hát phong slư… bà đặc biệt chú tâm đến hát lượn, bởi đây là lối hát khó, có nguy cơ thất truyền cao và bản thân bà lại rất có thể mạnh về nó. 

Hát lượn là một hình thức hát giao duyên của người Tày, gồm ba loại: Lượn cọi, lượn slương và lượn nàng hai. Hát lượn hiện nay chỉ có ở huyện Văn Quan, trở thành một “đặc sản” độc đáo, riêng có của huyện xứ hồi này. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì Vy Thị Liên là một trong số nghệ nhân hàng đầu của tỉnh Lạng Sơn về hát lượn, bà có “chất” riêng mà ít người có được.

Nghệ nhân Ưu tú Vy Thị Liên vừa vinh dự được chọn là đại biểu tham gia Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Lạng Sơn lần thứ V, giai đoạn 2020-2025.
Nghệ nhân Ưu tú Vy Thị Liên vừa vinh dự được chọn là đại biểu tham gia Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Lạng Sơn lần thứ V, giai đoạn 2020-2025.

Theo nghệ nhân Vy Thị Liên, muốn phát triển lượn Tày thì phải đưa nó vào giảng dạy trong trường học để học sinh có sự tiếp xúc thường xuyên, liên tục, đồng thời cần phải khôi phục ngôn ngữ Tày và môi trường diễn xướng. 

“Theo tôi việc khôi phục ngôn ngữ Tày và môi trường diễn xướng sẽ làm tăng lòng yêu mến cho thế hệ trẻ, bởi chỉ có lòng yêu mến, hứng thú thì mới mong họ gắn bó với hát lượn. Tuy nhiên, đây là quá trình bền bỉ, dài lâu, cần sự kiên trì, nhẫn nại, chứ không thể ngày một ngày hai. Thật vui mừng là có những bạn trẻ ban đầu đến với hát lượn còn chưa thích lắm, sau đó khi được chúng tôi giảng dạy kĩ lưỡng, tỉ mỉ về cách hát cũng như lịch sử ra đời, các em lại trở nên thích thú, đam mê”, nghệ nhân Vy Thị Liên trải lòng.

Để tăng sức hấp dẫn cho dân ca, để dân ca mang hơi thở của cuộc sống đương đại, bà đã còn đặt lời cho nhiều bài hát thuộc các thể loại như trong then cổ là “Quê noọng chàu mì”, “Điếp then”, “Xuân về ơn Đảng Bác”, “Quê noọng Văn Quan”; trong lượn là “Bjoóc nhằng hom mại”, “Vài đăm khẩu lù”, “Chứ ơn chài Tri”; trong phong slư là “Slắng chài khửn tàng”… Nhưng bà cũng thừa nhận đây là công việc không dễ, nếu không có vốn am hiểu sâu sắc cùng sự tìm tòi, nghiên cứu kĩ lưỡng thì rất dễ làm “hỏng” dân ca.

Gần nửa thế kỷ đắm đuối, tâm huyết với dân ca, nghệ nhân Vy Thị Liên được đánh giá là người có những đóng góp không nhỏ trong công tác truyền dạy và tham gia các hoạt động văn hóa của địa phương. 

Có thể khẳng định rằng thông qua các lớp truyền dạy kỹ năng đánh đàn tính và hát dân ca, các học trò của bà đã phát huy được khả năng của mình, nhiều người phát triển là những “hạt nhân văn nghệ” tiêu biểu, tiếp tục góp phần giữ gìn, bảo tồn di sản văn hóa. 

Hiện nay, với tư cách Ủy viên Ban Chấp hành Hội Bảo tồn dân ca tỉnh Lạng Sơn, Chi hội Phó Chi hội Bảo tồn dân ca huyện Văn Quan, người ta vẫn thấy nghệ nhân Vy Thị Liên bận rộn với những chuyến đi về sớm hôm trong việc lan tỏa dân ca quê nhà.

Thiết nghĩ, hát lượn nói riêng và dân ca Tày nói chung rất cần những người như nghệ nhân Vy Thị Liên, bởi chỉ có sự cống hiến hết mình, không toan tính thiệt hơn mới có thể giúp bà toàn tâm, toàn ý dành trọn cuộc đời mình cho di sản quê hương.

Ngô Khiêm

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.