Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?

Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng từng đặt câu hỏi này: “Tiếng đàn của bát đàn, hiện nay, các ông già bán bát đàn còn ở phố Bát Đàn cũng không hiểu nghĩa là gì. Chỉ biết là tên của loại bát tầm thường và không đẹp. “Việt Nam tân từ điển” của Thanh Nghị cũng chỉ giảng bát đàn là bát thường và xấu, nhưng không nói nghĩa đen của tiếng "đàn", và cũng không cho thí dụ những trường hợp khác có tiếng đàn mang nghĩa là thường và xấu.

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ_ANTGCT_TET2026_T21 -0
Phố Bát Đàn đầu thế kỷ XX - ảnh tư liệu.

Có người đoán đàn là do tiếng đàn tràng. Ngày xưa, những người mê tín khi trong nhà có người ốm, thì lập đàn để cúng ma. Các thứ đồ cúng, mới đầu đặt trên lá chuối, hoặc mảnh vỏ dừa. Rồi sau mới đặt lên bát, thứ bát xấu, rẻ tiền. Vì cúng xong, thì vứt đi, bởi lẽ ma đã dùng thì người không dùng nữa. Thứ bát dùng để cúng đàn, gọi là bát đàn. Rồi làng Bát Tràng làm nhiều bát ấy để bán. Nhân dân thấy rẻ thì mua. Hiện nay một vài hàng nước ở nông thôn còn giữ được một ít bát đàn” (theo “Nguyễn Công Hoan, nhà văn hiện thực lớn”, NXB Hội Nhà văn -1993, tr.355).

Về ý kiến này, kiểm chứng lại “Việt Nam tân từ điển” của Thanh Nghị, ta thấy không như nhà văn Nguyễn Công Hoan dẫn chứng mà câu giải thích là: “Bát đàn (grand bol): bát lớn”. Và, khi ông cho “bát đàn” từ “đàn tràng” mà ra, liệu chừng có hợp lý? Tôi nghĩ rằng không, bởi bản thân từ “đàn” có nghĩa hẳn hoi.

Trước hết ta xem từ điển giải thích ra làm sao, chẳng hạn, “Bát nông lòng, làm bằng đất nung thô có tráng men” (“Từ điển Việt Nam”, 1988). “Bát đàn: Đồ đất nung hạng xấu, có tráng men: bát đàn, dĩa đàn” (“Việt Nam tự điển”, 1931). Từ hai giải thích này, ta thấy bộ từ điển do Hội Khai Trí Tiến Đức biên soạn năm 1931 là chính xác hơn cả, vì cho thấy chất lượng của bát đàn (bát xấu, thô), do đó trái ngược với bát sứ (tinh xảo, đẹp), vì thế tục ngữ có câu “Mâm son bát sứ” trái ngược với “Đọi đất mâm đan”.

Tóm lại, đúng như nhà văn Nguyễn Công Hoan cho biết bát đàn là “loại bát tầm thường và không đẹp”, thường chỉ dành cho hạng bình dân, nhà nghèo túng, chẳng hạn trong truyện ngắn “Bà lão lòa”, nhà văn Vũ Trọng Phụng cho biết một hoàn cảnh đáng thương: “Trước túp lều tranh xiêu vẹo như chỉ còn chờ một trận gió to là đổ ụp xuống, cái sân đầy những bã mía, lá khô, một mâm cơm bát đàn đũa mộc trong để đĩa cá rô kho chuối với đĩa cá đen sịt đen sì, cầm trên tay mấy bát cơm ngô vàng ói, bà lão lòa, bác gái và hai đứa bé chỉ còn chờ bác trai rửa mặt rửa chân tay, ngồi vào là cùng cầm đũa”. Đây là bát ăn của hạng người như chị Dậu, Chí Phèo, Thị Nở, anh Pha, Tám Bính… còn trọc phú cỡ Bá Kiến, Nghị Hách, Nghị Quế ắt phải dùng bát sứ.

Tại sao lại gọi sứ/ bát sứ?

Lâu nay, những người mua bán, sưu tập, kể cả các nhà nghiên cứu đồ cổ có cụm từ “đồ sứ ký kiều” - trong tập sách “Khảo về đồ sứ cổ men lam” (NXB TP.Hồ Chí Minh,1993), học giả Vương Hồng Sển giải thích: “Kiểu là kiểu của mình đặt kiểu cho lò sứ Giang Tây, cứ theo mẫu mà làm. Không phải đồ Trung Hoa, rồi mình mang về nước, chuyển cho các lò nội hóa noi theo làm kiểu mẫu. Thí dụ, bạn muốn ký kiểu một bộ chén trà hoàn toàn do sáng kiến của mình, trước hết bạn thuê thợ tiện chén và dĩa theo đúng hình dáng mẫu mực riêng biệt ưa thích của bạn rồi son phấn, thuê họa sĩ vẽ, hay cao hứng bạn vẽ lấy càng hay, cuối cùng chính bạn đề thơ của mình hay của cố nhân cũng được - trường hợp đề thơ cổ phần nhiều do các hiệu buôn đồ sứ ký kiểu. Và bạn sẽ đặt tiền mà gửi mẫu kiểu đó sang Tàu, các lò sứ cứ theo đúng như vậy mà nặn, vẽ và viết. Đưa hàng ký kiểu phần nhiều do bọn lái buôn đồ sứ người Tàu làm trung gian” (tr. 211).

Và như chúng ta đã biết, học giả Vương Hồng Sển là người sưu tầm đồ cổ vào bậc nhất nước Nam ta ở thế kỷ XX, về đồ sứ ký kiểu cụ cho biết mình đã sở hữu hai bộ cực kỳ quý giá: “Một bộ tương truyền do Vũ Huy Tấn ký kiểu trong khi sang Tàu cầu phong tạm thời cho bậc vĩ nhân của dân tộc Việt: Quang Trung Vũ Hoàng đế Nguyễn Huệ. Bộ chén trà có vẽ tích Vương Mãng nhà Tây Tấn và Trần Đoàn thời Chu Mạt, Tống sơ, có đề hai câu nôm:

Mó rận luận chơi thời sự,

Ngã lừa mừng thuở thái bình.

Câu trên ngụ ý Vương Mãng chê chính trị nhà Tây Tấn rối nát (ám chỉ Lê - Trịnh); câu dưới nói lên việc Trần Đoàn ngã lửa cho là điềm chân chúa (Tống Thái tổ Triệu Khuông Dẫn) ra đời (ám chỉ Thái tổ Vũ Hoàng đế triều Tây Sơn).

Và một bộ nữa làm vào thời Kiền Long, vẽ một chú tiểu phu nằm bắc chân chữ ngũ, ngũ dưới gốc song trùng, bên chiếc cầu đá, thơ đề cũng hơi kỳ:

Vắt chân nằm ghếch ngáy o o,

Ngẫm xem mới biết Đường Ngu nói thuần”.

Từ các thông tin này, ta có thể đặt câu hỏi, liệu chừng “đồ sứ ký kiểu” có liên quan gì đến “sứ/ bát sứ” không? Phải chăng người ta gọi phố Bát Sứ vì đây chính là nơi bày bán bán đồ sứ ký kiểu? Không hề, muốn có loại sứ này ít ra phải cỡ vua chúa, đại quan hoặc thành phần danh gia vọng tộc mới có thể “ký kiểu” tận Trung Quốc. Còn thường dân thì không thể. Là vật quý, giữ làm của “gia bảo”, ai lại đem ra bán bao giờ?

Vậy sứ/ bát sứ cần hiểu qua nghĩa khác.

Theo nhà văn Nguyễn Công Hoan: “Bát sứ: Là thứ bát đẹp được các quan ta đi sứ sang Triều đình Trung Quốc mua đem về. Tên bát sứ là tiếng nói rút gọn của câu: bát của các quan đi sứ mang về” (SĐD, tr.353). Vậy suy ra phố Bát Sứ là nơi bày bán các loại bát này? Không hợp lý vì “các quan đi sứ mang về” được số lượng bao nhiêu lắm mà bán từ năm này qua tháng nọ?

Chỉ có thể giải thích như thế này: Về các sản vật, vật dụng liên quan đến từ sứ, sách “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) có nêu ra vài dẫn chứng và giải thích: “Cây hoa sứ, sứ tàu, sứ ma: Thứ cây có hoa thơm tho, có hai giống: giống bên Trung Quốc đem qua gọi sứ Tàu, lớn cây, bông có vàng trắng hai sắc, mà thơm ngọt; còn một giống nhỏ cây gọi là sứ ma, lớn bông mà thơm gắt”. Ta hiểu sở dĩ từ sứ xuất hiện là do ngày xưa các quan đi sứ nước ngoài đem giống về trồng; không chỉ từ Trung Quốc mà từ Thái Lan cũng có từ sứ, thí dụ chuối xiêm/ chuối sứ v.v…

Từ giải thích này, ta có thể suy ra sở dĩ gọi người ta gọi phố Bát Sứ, chính  vì nơi này bày bán các loại đồ sứ nhập từ Trung Quốc. Lập luận thế này là chắc ăn, đố ai có lý lẽ nào khác để có thể phản bác? Không đâu. Những tưởng lý lẽ trên hợp lý nhưng lại trật bởi trong trường hợp này là người ta không gọi bát sứ mà lại gọi bát ngô, ta còn tìm thấy dấu vết trong ca dao:

Bát Ngô, Bát Sắt đem qua

Hàng Vải, Hàng Thiếc lại ra Hàng Hòm.

Gọi bát ngô là bát của người Ngô cũng tựa cách gọi bí ngô, lúa ngô… Được biết phố Bát Ngô cũng từng là tên gọi của phố Bát Sứ. Như vậy, khi gọi phố Bát Sứ thì ta biết nơi này không chỉ bày bán các loại bát sứ do người Việt sản xuất mà còn có cả đồ sứ nhập từ Trung Quốc. Và, người ta gọi sứ/ bát sứ là gọi theo mặt hàng, theo chất liệu làm ra các sản phẩm đó như ta có các từ gốm sứ, gốm sành. Vậy hàng bán ở phố Bát Sứ do bằng sứ kiểu đẹp, tinh xảo, chất lượng tốt nên ta gọi thành danh từ riêng. Tương tự không khác gì trường hợp của cách gọi đàn/ Bát Đàn. Tất nhiên ở hai phố này, không chỉ bày bán bát đàn, bát sứ mà còn có các vật dụng khác như chậu sành, chum, vại, lộc bình, ấm sứ, dĩa chén, chậu hoa, điếu bát…

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Rừng hoa xuân tuyết bay

Rừng hoa xuân tuyết bay

Nếu tính chặng đường đi tiếp của chúng tôi từ phường Tuyên Quang tới hồ thủy điện Na Hang chừng 100 cây số. Ấy là chưa nói, đoàn còn lên vùng núi cao Hồng Thái cũng phải tròm trèm 50 cây số nữa. Nghe vậy mọi người lắc đầu ngao ngán. Nhưng ai đó chợt kể, ở một bản Dao trên núi có tục gái mua trai về làm chồng. Rồi họ còn tổ chức trò chơi dù bay trên mây nữa chứ. Mọi người phấn chấn hẳn. Lập tức chuyến xe lại rùng rùng hú còi lên đường.