Mùa hoa sữa về, nhớ nhạc sĩ Hồng Đăng

Ngày còn làm báo, tôi hay la cà ở 51 Trần Hưng Đạo, trụ sở của Hội Nhạc sĩ Việt Nam, và thích được trò chuyện học hỏi từ các nhạc sĩ về âm nhạc. Nhạc sĩ Hồng Đăng dễ gần nhất. Ông nói những điều uyên bác một cách dễ hiểu, lại hóm hỉnh vui tính.

Thời gian đó ông đang là Phó tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam (ba nhiệm kỳ IV, V và VI), nhưng ông chả tỏ vẻ gì quan cách. Cái cách ông trân trọng và quý mến những nhà báo khiến chúng tôi rất nể trọng (mà đâu có phải để viết gì về ông).

042f0bad997c14224d6d.jpg -0
Nhạc sĩ Hồng Đăng.

Theo ông, âm nhạc là thứ gần gũi nhất với con người, không cần biết nốt nào nhưng từ trẻ con đến người lớn, từ trí thức đến nông dân đều yêu âm nhạc, phân biệt được hay dở của bài hát (ở dạng phổ thông) bằng trực giác. Vì thế một tác giả/ soạn giả âm nhạc vừa phải đem đến cho công chúng những món ăn mà họ có thể thụ hưởng được vừa nâng dần cảm thụ thẩm mỹ của họ lên.

Tôi rất thích điều này. Ít nhất là trong một giai đoạn đời sống tinh thần của người Việt vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh, nghèo đói và ngổn ngang, chưa được tiếp cận nhiều với những tác phẩm nghệ thuật lớn của thế giới…

Ông có tài xem tử vi. Không ít người thấy ứng nghiệm lời ông giải mã lá số. Ông luôn có những món quà nho nhỏ trong túi như cái dây đeo chìa khóa, chiếc bật lửa hay cái bút máy xinh xinh, ông vui vẻ tặng cho những người đến làm việc hay trò chuyện với ông (cái thời những thứ đó còn rất giá trị)…

*

Tôi cũng thích nghe những bài hát của ông: Giai điệu dễ đi vào lòng người, ca từ giàu hình ảnh, và cảm xúc luôn đặt ở vị trí trung tâm. “Biển hát chiều nay” và “Hoa sữa” là hai ví dụ điển hình cho cách ông kết hợp hình ảnh thiên nhiên - thành phố với nỗi niềm con người, khiến tác phẩm đạt tới chiều sâu cảm xúc của những người am hiểu âm nhạc/ có chuyên môn sâu vừa mang tầm phổ quát xã hội/ công chúng.

“Biển hát chiều nay” và “Hoa sữa” đã được thể hiện qua nhiều giọng ca và phối khí - từ bản thu cổ điển, đơn giản đến các phối khí đương đại. “Hoa sữa” khởi đầu là ca khúc viết cho phim "Hà Nội mùa chim làm tổ" của đạo diễn Ðức Hoàn, nhưng sau đó, được nhiều ca sĩ tên tuổi từ bắc tới nam như Lê Dung, Nhã Phương, Thanh Hoa, Thanh Lam, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Hồ Quỳnh Hương... yêu mến thể hiện, trở thành một "hiện tượng" trong đời sống nhạc nhẹ thập niên 80 của thế kỷ XX.

"Hoa sữa" giản dị, mộc mạc, trong sáng trong ca từ nhưng thấm đẫm một tình yêu của người nghệ sĩ dành cho Hà Nội-nơi không sinh ra Hồng Ðăng nhưng là vùng đất cho tâm hồn nghệ thuật của ông cất cánh... Mỗi ca sĩ/nhạc công đem đến sắc thái mới: có người nhấn vào chiều sâu triết lý, có người nhấn vào nét lãng mạn, có người phối khí để phóng đại tính không gian (thích hợp cho sân khấu lớn).

Phiên bản của Mỹ Linh cho “Biển hát chiều nay” là một ví dụ về phối khí hiện đại làm bật lên chiều không gian của biển. Giai điệu: thiên về đường quãng vừa phải, nhiều câu nhạc có hướng đi ngẩn ngơ, mang tính hùng vĩ nhưng đồng thời trải lòng - tạo cảm giác “biển rộng mà buồn, đẹp mà da diết”. Chủ đề chính thường lặp lại và được biến đổi nhẹ qua các khổ để tăng cảm xúc. Tác phẩm có cấu trúc tương tự câu hát truyền thống, trong đó điệp khúc là điểm nhấn gợi hình ảnh “biển hát” - vừa cụ thể (tiếng sóng) vừa tượng trưng nỗi nhớ, ký ức.

Bản phối dành cho Mỹ Tâm ở chương trình “Giai điệu tự hào” năm 2015, lại mang một dáng đẹp khác, một biển hát khác làm đa dạng cách tiếp cận với âm nhạc Hồng Đăng, mới và trẻ hơn, nhưng cũng da diết, dâng trào. Hôm Mỹ Tâm biểu diễn, tôi ngồi cạnh vợ chồng ông, thấy ông dành lời khen cho giọng hát Mỹ Tâm và bản phối này.

*

Hồng Đăng thuộc thế hệ nhạc sĩ có nền tảng học thuật nhưng ông rất gần đời sống, nên sáng tác của ông là những giai điệu dễ nhớ, cấu trúc câu nhạc rõ ràng, giàu tính gợi cảm và thường khai thác chủ đề: thiên nhiên (nhất là biển), ký ức, thành phố, tình cảm đời thường.

“Biển hát chiều nay” được sáng tác sau một chuyến thực tế dọc ven biển (1979-1980) và ông từng kể là bài này ra đời rất nhanh “chỉ trong 20 phút”, thể hiện cảm xúc dâng trào trước biển cả và mối liên hệ giữa biển với con người, dân tộc. Bài này nằm trong nhóm ca khúc về biển của ông, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp và được đưa vào danh mục những tác phẩm tiêu biểu.

Với tôi “Biển hát chiều nay” là một trong những ca khúc hay nhất viết về biển của âm nhạc Việt Nam, vừa có tính tượng trưng, vừa đậm chất nhân văn. Đó không chỉ là bài ca về biển, mà còn là bản hòa ca về con người - với ký ức, niềm tin và tình yêu.

“…Chân trời rất xanh gọi nắng xôn xao/ Con thuyền rất vui, và gió hát ngọt ngào/ Môi cười rất xinh lung linh màu áo/ Mây trắng gợn lên những cánh chim hải âu…/ Mỗi một tình yêu, mỗi một cuộc đời/ Qua bao nhiêu thăng trầm lửa thử vàng mới nên người/ Biển xanh vẫn nhắc những lời yêu thương/ Biển lại hát tình ca biển kể chuyện quê hương”.

Biển ở đây không chỉ là thiên nhiên, mà là ẩn dụ cho Tổ quốc, cho vòng tay rộng lớn bao dung đón con người trở về…

Ca từ của Hồng Đăng giàu hình ảnh do đó nhiều ca khúc dễ gợi liên tưởng, dễ đi sâu vào tình cảm người nghe. Ông là một trong những nhạc sĩ đa dạng về thể loại: ca khúc, hợp xướng, ca-cảnh, nhạc phim, nhạc sân khấu, khí nhạc… Đặc biệt, ông đã sáng tác nhạc được sử dụng cho hơn 70 bộ phim, trong đó có những ca khúc nhạc phim nổi tiếng như: "Hoa sữa" (phim "Hà Nội mùa chim làm tổ"), "Lênh đênh" (phim "Đời hát rong"), "Biển hát chiều nay" (nhiều phim về đề tài biển), "Nỗi nhớ đêm đại dương" (phim "Những hạt muối của biển"), "Biển và cô gái tôi chưa quen" (phim "Những ngôi sao nhỏ"), "Không gian xanh" (phim "Vùng trời")...

*

Nhạc sĩ Hồng Ðăng là cháu ruột của nhà cách mạng Phan Ðăng Lưu. Lớn lên trong một gia đình trí thức xứ Nghệ, Hồng Ðăng bước chân vào đời với tâm thế của một người không ngừng học hỏi, cống hiến. Ông sớm đi theo âm nhạc, đã bắt đầu sáng tác những ca khúc đầu tiên khi còn là học sinh kháng chiến ở liên khu IV với những ca khúc đầu tay như "Nắng về Tây Bắc", "Nhớ ơn cụ Hồ"...

Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, hòa bình lập lại, Hồng Ðăng về Hà Nội và bắt đầu đi theo âm nhạc chuyên nghiệp. Ông là học viên của lớp học sáng tác khóa đầu tiên của Trường Âm nhạc Việt Nam, nay là Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam. Thời gian này ông đã có nhiều ca khúc nổi tiếng như "Đường ta đi có nắng mặt trời", "Quà tháng Năm" (lời cùng với Thế Bảo), "Giữa mùa sa nhân", "Tổ quốc tôi trên mười năm đã lớn" (lời cùng Nguyễn Liệu)... và một số tác phẩm khí nhạc.

Rồi ông ở lại làm công tác giảng dạy, trở thành người thầy của những nhạc sĩ tên tuổi sau này như Tôn Thất Lập, Thuận Yến, Trần Long Ẩn, Phú Quang... Ông có khoảng vài trăm tác phẩm, nhiều bài trở thành “bản tình ca” được công chúng yêu thích.

4069947756393829809.jpg -1
Nhạc sĩ Hồng Đăng và vợ.

Ông cũng là Tổng Biên tập Tạp chí Âm nhạc (từ 1989), và tờ Thế giới Âm nhạc (từ 1996), là nhạc sĩ đầu tiên được kết nạp vào Hội Điện ảnh Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ Hà Nội. Năm 2001, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về VHNT cho các tác phẩm: ca khúc "Biển hát chiều nay", "Hoa sữa", "Quà tháng năm", "Kỷ niệm thành phố tuổi thơ" và hợp xướng "Lửa rực cháy''.

Năm 2005, ông tổ chức đêm nhạc đầu tiên mang tên “Lênh đênh biển” tại Nhà hát Lớn Hà Nội và Nhà hát Hòa Bình (Thành phố Hồ Chí Minh). Năm 2007, ông là nhạc sĩ được vinh danh trong chương trình Con đường âm nhạc mang tên 24 hình/giây. Năm 2008, ông cho ra mắt album "Lênh đênh biển" sau ba năm kể từ liveshow đầu tiên.

Ông cũng là người viết sách giáo khoa âm nhạc: "70 bài xướng âm"; "Các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng" (tái bản lấy tên là “Các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng”; "200 bài xướng âm cơ bản".

Ông đã được trao Giải thưởng lớn "Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội" vì có những cống hiến xuất sắc cho nền âm nhạc Thủ đô. Ông được Nhà nước trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho một số tác phẩm tiêu biểu.

*

Vốn là người lãng tử, coi cuộc đời là sự rong chơi trách nhiệm, ông trách nhiệm với công việc chung bao nhiêu thì đời sống riêng ông lãng tử bấy nhiêu, mọi việc nhà, việc sống như thế nào đều một tay vợ ông bà Lê Anh Thúy lo toan. Bà luôn có mặt bên ông. Vào những năm tháng tuổi già ông hạnh phúc vì có một người vợ luôn hết mình chăm sóc…

Ông qua đời ngày 21 tháng 3 năm 2022 tại Hà Nội.

Sau đó ít ngày, cũng vào năm 2022, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT cho các tác phẩm: "Lênh đênh", "Đêm hành hương về huyền thoại", "Buổi tối chuyện một căn nhà nhỏ", "Khao khát", "Gửi một câu hát cho Tokyo".

Trần Thị Trường

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.