Linh hồn của rừng núi Tây Nguyên

Có thể nói, âm nhạc cồng chiêng là tài sản vô giá của bà con các dân tộc Tây Nguyên, cụ thể là của các cộng đồng làng rừng. Làng rừng còn thì âm nhạc cồng chiêng còn. Và ngược lại. Sự tồn tại của cồng chiêng cũng bất khuất như chính các tộc người sinh ra nó. 

Dẫu có trải qua không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh, không biết bao nhiêu thiên tai tàn khốc, tiếng cồng tiếng chiêng vẫn âm vang khắp núi rừng Tây Nguyên. Không buôn làng nào không có cồng chiêng. Và mỗi con người từ khi được sinh ra cho tới lúc "xuống ở dưới nhà mồ" vẫn đem theo âm thanh kỳ diệu ấy. Khi vui có bài vui. Lúc buồn có bài buồn.

Mỗi lễ hội có bài riêng. Chỉ cần nghe tiếng cồng chiêng ở buôn làng nào là người ta hiểu ngay làng ấy đang có công việc gì, đang có sự kiện gì. Sự gắn bó của từng thành viên với cộng đồng thể hiện ngay ở chính dàn cồng chiêng, với những bài, những giai điệu mà nếu chỉ một hai người chơi, không thể nào tạo nên được.

Có lẽ chính vì vậy mà bất cứ người Tây Nguyên nào cũng từng là nhạc công, từng là thành viên của đội chiêng, đội chiêng của làng mình, buôn mình. Và trong mỗi làng, thậm chí trong một vùng, lúc nào cũng có một hai người sành hơn, người ấy có thể so chiêng cho đúng nốt, dẫn dắt cả đội theo nhịp của bài chiêng không bị sai, không bị lỗi.

Lễ hội “Cồng chiêng Tây Nguyên”.
Lễ hội “Cồng chiêng Tây Nguyên”.

Trong mỗi cộng đồng chiêng gồm có hai tổ. Tổ có núm còn gọi là cồng và tổ không có núm, còn gọi là chiêng bằng. Chiêng có núm giữ nhịp, đệm cho chiêng bằng tấu lên các giai điệu của bản nhạc. Chủ yếu là nhạc không lời. Nhưng ở một vài vùng BahNar, người ta dựa theo giai điệu nhạc chiêng đặt lời để hát. Thậm chí người ta dựa vào nhạc chiêng để thổi Đinh yơng, vỗ Klongput.

Ở vùng đồng bào Jrai người ta hát dân ca đôi khi có những giai điệu cồng chiêng dựa theo các làn điệu ấy. Nhưng sau này còn lại rất ít. Người ta lại "cải tiến" cồng chiêng bừa bãi đến mức đáng báo động. Ví như cồng (chiêng có núm) được tăng thêm tức là thêm nốt, gốc của nó là đệm, là giữ nhịp thì giờ đây lấn át sang cả chiêng bằng, thành ra chính nó tạo nên giai điệu, có lẽ để phù hợp với tiết tấu hiện đại vừa nhanh hơn, vừa "thực dụng" hơn!

Tôi có đôi lần được xem, được nghe chiêng cải tiến. Dàn chiêng này đệm cho ca sĩ hát những bài hát mới. Mới đầu nghe, có vẻ có lý, có vẻ tiến bộ. Nhưng thực chất nó đã làm hại mình. Người ta chạy theo tiết tấu mà bỏ quên giai điệu. Sự phản ứng của bà con, nhất là những người già biểu hiện rất rõ. Họ đặt cho chiêng "cải tiến" rất nhiều tên xấu: "chiêng trẻ nít" vì toàn người trẻ đánh.

Chiêng atâu (tức chiêng ma). Thậm chí có nơi còn gọi chiêng cải tiến bằng thứ rất tục tĩu. Sự thể đôi lúc rất căng thẳng. Cả làng tổ chức pơthi (lễ bỏ mả) thì lớp thanh thiếu niên đòi đánh ching chiêng cải tiến trước, đánh chán rồi mới tới các người già. Người già chỉ đánh chiêng với những cái chiêng cổ truyền cùng các giai điệu cổ truyền.

Chiêng cải tiến mà các cụ già gọi là cải lùi vì nó mất đi tính cộng đồng vốn có. Dàn chiêng cải tiến được đặt trên giá, chỉ cần một người gõ - giống như gõ trống trong dàn nhạc ja, nhạc rock. Chủ yếu là chơi bài hát mới, có thể biểu diễn trên sân khấu.

Còn chiêng cổ truyền thì mỗi nhạc công chỉ phụ trách một nốt, một người đánh sai là sai cả dàn. Nó đòi hỏi cái tai người nhạc công, cái tay người nhạc công không được lạc. Nó chỉ hay trong không gian rừng núi, buôn làng, trong lễ hội chứ không thích hợp với việc biểu diễn trên sân khấu. "Sân khấu" của cồng chiêng là sân làng, là nơi hội hè đông đúc, là khu nhà mồ, là đống lửa đêm rừng chứ không phải phông màn, càng không phải thứ ánh sáng hiện đại nhiều màu nhấp nhoá.

 Cồng chiêng và âm nhạc cồng chiêng gắn liền với đời sống sinh hoạt của cộng đồng làng. Những nhà giàu được tính là giàu khi có mấy bộ ching chiêng. Những làng buôn giàu có được gọi là giàu có vì làng ấy, buôn ấy có nhiều bộ ching chiêng quý. Càng cổ xưa càng quý.

Hai từ cồng chiêng là hai từ đã được gọi theo lối Việt hoá. Thực ra ngay trong một dân tộc như dân tộc Jrai, ở vùng AYunPa, Krôngpa, Pleiku gọi cồng chiêng là ching. Trọn bộ người ta cũng gọi là ching. Ở vùng Chư Pơ Rông, Chư Pah thì gọi bộ cồng gồm ba cái hoặc sáu cái (ania, mung, moong) những chiếc cồng này đánh lên ta nghe cả những âm kể trên rất rõ.

Chúng dùng để đệm và được gọi là chiêng. Loại cồng này có núm. Loại chiêng bằng gồm 7 đến 9 cái, trong đó có ba cái giữ vai trò chủ chốt là Dốt, PDông, Đuôl dùng để đánh giai điệu. Một bộ có tới 16 chiếc gọi là bộ ching chiêng. Ching chiêng cổ quý hiếm bây giờ hiện còn được bao nhiêu bộ, đố ai mà biết được (!).

Nụ cười thơ trẻ trong lễ hội “Cồng chiêng Tây Nguyên”.
Nụ cười thơ trẻ trong lễ hội “Cồng chiêng Tây Nguyên”.

Tôi đã có lần được dự lễ pơthi (lễ bỏ mả) ở Chư Pơ Rông và được sờ tay vào những chiếc ching, chiếc chiêng quý hiếm cổ xưa, trên núm những chiếc ching chiêng ấy có gạch ngang sờ không thấy gợn, phía trong có vết hình thang, toàn thân màu đen, nhẵn và trơn giống như da cá trê, chiêng rất mỏng, tiếng rất trầm và vang, ngân rất lâu.

Có loại ching chiêng da nhẵn nhưng có vết búa, vết rạn như mu rùa. Nói chung loại ching chiêng cổ đánh lên ngân rất xa, rơi không vỡ. Thực ra ở Tây Nguyên có rất nhiều loại cồng chiêng, nhưng loại được coi là cổ phải có những tiêu chuẩn riêng mà chỉ có các cụ già mới xác định được.

Càng đi sâu vào tìm hiểu ta càng thấy cái lý của người già không đơn giản. Vì không phải là nhà nghiên cứu chuyên nghiệp nên có thể cách nhìn của tôi thiên lệch. Mỗi lần thấy người ta đem cồng chiêng lên sân khấu, tôi lại thốt lên: "Cồng chiêng ơi, ta đứng về phía các già làng!". Vâng, tôi đứng về "phe bảo thủ" trong tiến trình bảo tồn văn hoá cổ truyền. Sự cải tiến cồng chiêng để đưa lên sân khấu tạo nên những ấn tượng rất xấu đối với quan niệm của tôi.

Tôi rất tâm đắc với ông Trịnh Kim Sung (cố Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin Gia Lai-Kon Tum) rằng, muốn phổ biến âm nhạc cồng chiêng được sâu rộng, thì chỉ có hình thức tối ưu nhất, đó là hằng năm ở các tỉnh Tây Nguyên, nên luân phiên nhau, tổ chức nhạc hội. Và cũng cần có tinh thần cực đoan ở điểm này rằng, nhạc hội cồng chiêng chỉ nên tổ chức ở Tây Nguyên, không nên "lôi" xuống các đô thị.

Vì vậy ta mới thấy mối quan hệ ruột rà của CỒNG CHIÊNG VỚI TÂY NGUYÊN - TÂY NGUYÊN VỚI CỒNG CHIÊNG.  Có như vậy mới gọi là đặc sản quý hiếm! Và cũng bởi vì không thể tách cồng chiêng ra khỏi  môi trường không gian rừng núi với những nét sinh hoạt của cộng đồng làng rừng, nơi đã sản sinh ra nó. Tách nó ra khỏi môi trường của mình, giống tách cá ra khỏi nước. Cũng có thể nói, cồng chiêng là hồn của núi, tách hồn ra khỏi xác hỏi còn gì nữa, Yàng ơi!

Trung Trung Đỉnh -Xuân 2017

Các tin khác

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.