1.Cuối tháng 5/2026, tại chân dãy Hoành Sơn, hội thảo khoa học "Hoành Sơn Quan - Đèo Ngang, những vấn đề về lịch sử và văn hóa" đã diễn ra với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa, do Liên hiệp các hội Khoa học - Kỹ thuật Hà Tĩnh phối hợp với UBND phường Hoành Sơn tổ chức. Là người theo dõi hội thảo và được đọc kỹ các tham luận, lắng nghe những ý kiến trình bày tại hội thảo, chúng tôi nhận ra một vấn đề khiến nhiều người băn khoăn, đó là câu chuyện về cách ứng xử đối với một di sản liên vùng có giá trị đặc biệt nhưng đã bị lãng quên quá lâu.
Tại hội thảo, điều mà nhiều nhà nghiên cứu khoa học cùng nhìn thấy không chỉ là một cổng thành cổ trên đỉnh đèo, mà một không gian lịch sử kéo dài hàng nghìn năm, một "yết hầu" chiến lược của đất nước, một ký ức chung của nhiều vùng đất và nhiều thế hệ người Việt. Và từ đó, một câu hỏi lớn được đặt ra, cần phải làm gì với di tích Hoành Sơn Quan? Có một thực tế, trong nhiều năm, Hoành Sơn Quan thường được nhìn nhận như một di tích nằm giữa ranh giới của hai địa phương Hà Tĩnh và Quảng Trị. Nhưng chính cách nhận nhìn ấy đã vô tình thu hẹp giá trị của di sản. Lịch sử cho thấy Hoành Sơn chưa bao giờ chỉ là câu chuyện của một tỉnh.
Qua sử sách và tài liệu hội thảo đã chứng minh, từ thời Đại Việt-Champa, đây đã là ranh giới địa chính trị quan trọng của quốc gia. Trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, đây là vị trí chiến lược kiểm soát toàn bộ hành lang Bắc-Nam. Đối với các chúa Nguyễn, Hoành Sơn chính là điểm tựa mở đầu cho hành trình Nam tiến và hình thành một trung tâm quyền lực mới ở Thuận Hóa-Phú Xuân. Rồi đến thời Minh Mạng, Hoành Sơn Quan được xây dựng như một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ Kinh đô Huế từ xa, cùng với Hải Vân Quan ở phía Nam tạo thành hai cánh cửa bảo vệ trung tâm quyền lực của quốc gia.
Nhưng theo nhiều nhà nghiên cứu, giá trị của Hoành Sơn không chỉ nằm ở quân sự. Nơi đây còn là một biểu tượng văn hóa. Ít có địa danh nào đi vào thi ca Việt Nam với tần suất và chiều sâu như Đèo Ngang. Từ Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Cao Bá Quát đến Bà Huyện Thanh Quan, từ thơ ngự chế của vua Thiệu Trị đến những câu ca dao dân gian, tất cả đã cùng góp phần tạo nên một không gian văn hóa đặc biệt mà không địa phương nào có thể nhận là của riêng mình. Hoành Sơn Quan vì thế không phải là di sản của Hà Tĩnh. Cũng không phải là di sản của Quảng Trị. Mà đó là di sản của cả một vùng đất, của lịch sử dân tộc.
2.Điều đáng suy ngẫm nhất trong hội thảo là sự thống nhất gần như tuyệt đối của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học về nguyên nhân khiến Hoành Sơn Quan vẫn chưa được bảo tồn và phát huy tương xứng. Không phải vì thiếu tiền. Không phải vì thiếu kỹ thuật. Cũng không phải vì địa hình hiểm trở. Mà "điểm nghẽn" lớn nhất nằm ở thể chế quản lý. Nói một cách dễ hiểu, Hoành Sơn Quan nằm giữa hai địa phương nhưng lại chưa thuộc trách nhiệm đầy đủ của một địa phương nào. Trong nhiều năm qua, cả hai bên đều quan tâm, đều mong muốn bảo tồn di tích, nhưng không có một cơ chế phối hợp đủ mạnh để cùng hành động. Khi di tích xuống cấp, không ai đủ thẩm quyền để đầu tư toàn diện. Lúc cần lập quy hoạch tổng thể lại không có đầu mối thống nhất. Khi cần phát huy giá trị du lịch, mỗi địa phương lại nhìn từ góc độ riêng của mình. Và hệ quả là thời gian trôi qua, di tích tiếp tục xuống cấp.
Đây không phải là câu chuyện riêng của Hoành Sơn Quan. Nó là biểu hiện điển hình của một tư duy quản lý di sản còn nặng về địa giới hành chính thay vì tiếp cận theo không gian văn hóa. Trong khi lịch sử không có ranh giới hành chính. Di sản càng không có ranh giới hành chính. Tại hội thảo, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất quan điểm chúng ta đã có một bài học thành công rất gần: Di tích Hải Vân Quan. Không lâu trước đây, Hải Vân Quan cũng trong tình trạng tương tự. Di tích này nằm giữa Huế và Đà Nẵng và bị xuống cấp nghiêm trọng; tranh cãi về trách nhiệm quản lý cũng diễn ra. Công tác đầu tư gần như "dậm chân tại chỗ". Nhưng điều làm nên bước ngoặt không phải là kinh phí, mà là sự thay đổi tư duy.
Huế và Đà Nẵng đã chấp nhận gác lại câu hỏi "di tích thuộc về ai" để cùng trả lời câu hỏi "làm thế nào để cứu di tích". Hai địa phương ký kết cơ chế phối hợp, cùng lập hồ sơ khoa học, cùng xin chủ trương của Trung ương, cùng đầu tư trùng tu, tu bổ di tích; quan trọng hơn, họ chuyển từ tư duy sở hữu sang tư duy đồng quản trị. Đó chính là chìa khóa của mọi vấn đề. Ngày nay, Hải Vân Quan không còn là tình trạng của sự chia cắt địa giới mà đã trở thành biểu tượng của hợp tác liên vùng trong bảo tồn di sản. Hoành Sơn Quan hoàn toàn có thể đi theo con đường ấy.
3.Tại hội thảo, nhiều nhà nghiên cứu đã hoàn thành phần việc của mình khi họ đã chứng minh giá trị lịch sử, xác định rõ những vấn đề tồn tại, đồng thời đề xuất các giải pháp. Phần việc còn lại thuộc về lãnh đạo hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị. Bởi đây không còn đơn thuần là câu chuyện chuyên môn của ngành văn hóa mà đây là câu chuyện của tầm nhìn phát triển. Vì vậy, hai địa phương cần nhanh chóng thiết lập một cơ chế phối hợp chính thức cấp tỉnh về bảo tồn và phát huy giá trị Hoành Sơn Quan. Cũng ngay tại hội thảo này, Hội Di sản văn hóa Việt Nam đã chuyển đến ban tổ chức một bức thư, trong đó đề nghị hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị sớm thiết lập cơ chế phối hợp chính thức trong nghiên cứu, bảo tồn tôn và và phát huy giá trị di tích Hoành Sơn Quan.
Được biết, ngay sau hội thảo, "để kịp thời chuyển hóa các kết quả nghiên cứu khoa học", Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh đã có văn bản đề xuất với UBND tỉnh này giao cho các sở, ngành chức năng tham mưu cho tỉnh chủ động phối hợp, làm việc và ký kết quy chế phối hợp với UBND tỉnh Quảng Trị nhằm tạo sự thống nhất cao về chủ trương, tạo tiếng nói chung trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hoành Sơn Quan. Phối hợp chặt chẽ với tỉnh Quảng Trị tiến hành lập quy hoạch tổng thể khu vực di tích; giao cơ quan chuyên môn khẩn trương xây dựng hồ sơ khoa học trình cấp thẩm quyền xem xét, xếp hạng Hoành Sơn Quan thành di tich quốc gia…
Kỳ vọng của hội thảo là rất lớn, và đã mở ra hướng tiếp cận vấn đề đồng quản trị di tích Hoành Sơn Quan, bởi đây là mấu chốt, "điểm nghẽn" cần được hai địa phương tích cực nhìn nhận và có những động thái hợp tác. Hơn ai hết, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần có tiếng nói cụ thể về vấn đề này, bởi suy cho cùng bài học Hải Vân Quan là mô hình rất đáng tham khảo, học hỏi cho việc quản trị di tích Hoành Sơn Quan.