Khái Hưng từ vị trí “Nửa chừng xuân”

Xã hội hiện đại hôm nay có thể không còn dị nghị lời ra tiếng vào với những phụ nữ quyết định làm “mẹ đơn thân”. Nhưng để có lựa chọn bản lĩnh và chủ động ấy, thật ra, cần một lộ trình dài hơi, không ngừng táo bạo và cởi mở của lịch sử, văn hóa và bối cảnh xã hội.

Văn chương, theo cách riêng của mình, cũng khiến lộ trình này thêm phần kịch tính, thậm chí có khi tạo ra bước ngoặt. Văn sĩ Khái Hưng, nói không quá lời, là người đã tạo ra bước ngoặt đó, người khiến công chúng văn chương và xã hội phải lắng nghe mình, trước tiên và cao trào nhất, nhờ sự kiến tạo kiểu nhân vật “mẹ đơn thân” giữa lúc chẳng mấy ai nghĩ rằng đó sẽ là thực tế không hề hiếm sau gần một trăm năm.

1. “Nửa chừng xuân”, tiểu thuyết của Khái Hưng, xuất hiện lần đầu trên tuần báo Phong Hóa số 36 (ra ngày 3-3-1933), kéo dài đến số 63 (ra ngày 8-9-1933). Cũng trên Phong Hóa, sau khi đăng quảng cáo “Nửa chừng xuân (Đời cô Mai) sẽ bắt đầu bán vào quãng tết” (số 80, 5-1-1934) thì đến số 86 (23-2-1934), Tựa “Nửa chừng xuân” của Nhất Linh đã xuất hiện ngay ở trang hai. Nhắc lại như thế để hình dung rõ hơn về những diễn biến dồn dập, sinh động và đầy hiệu quả liên quan đến tiểu thuyết “Nửa chừng xuân”, và rộng hơn, đến “cặp đôi” Khái Hưng - Nhất Linh trên Phong Hóa, cơ quan ngôn luận của Tự lực văn đoàn mà hai ông là thành viên chủ chốt.

Khái Hưng (1896-1947) điển hình cho thế hệ chuyển đổi từ Nho học sang Tây học, một kiểu trí thức duy tân chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực văn hóa văn chương. Xuất thân trong gia đình quan lại ở Cổ Am (Vĩnh Bảo, Hải Phòng), Khái Hưng được học chữ Hán từ nhỏ nhưng rồi, cùng với những thay đổi mạnh mẽ của thời cuộc, ông chuyển sang học chữ Pháp ở trường Paul Pert. Sau thất bại trong công việc mở đại lý bán dầu hỏa, đầu thập niên 1930, Khái Hưng lên Hà Nội dạy học ở trường Tư thục Thăng Long và trở nên thân thiết với đồng nghiệp Nhất Linh Nguyễn Trường Tam. Từ đây, Khái Hưng - Nhất Linh nhanh chóng tạo thành một sự kết hợp đặc biệt mà nhờ nó, Tự lực văn đoàn ra đời, phát triển thành nhóm văn chương quan trọng nhất của giai đoạn hiện đại hóa văn học Việt Nam.

Khái Hưng có một sự nghiệp văn học lớn, quan trọng mà đến nay, trong hầu hết tất cả các giáo trình, công trình, tài liệu nghiên cứu, viết về ông, bởi nhiều lí do khác nhau, vẫn chưa khái quát, đánh giá, hệ thống hóa một cách đầy đủ nhất. Tạm dừng lại chặng Khái Hưng năng nổ và tựu thành nhất (với sự cổ vũ không hề nhỏ của anh em nhà Nguyễn Tường trong Tự lực văn đoàn), ta có thể nhắc đến các tác phẩm: “Hồn bướm mơ tiên” (1933), “Nửa chừng xuân” (1934), “Anh phải sống” (viết chung với Nhất Linh và Hoàng Đạo, 1934), “Gánh hàng hoa” (viết chung với Nhất Linh, 1934), “Tiêu sơn tráng sĩ” (đăng báo 1934), “Đời mưa gió” (viết chung với Nhất Linh, 1935), “Tiếng suối reo” (tập truyện, 1935), “Dọc đường gió bụi” (tập truyện, 1936), “Trống Mái” (tiểu thuyết, 1936), “Tục lụy” (kịch, 1937), “Gia đình” (tiểu thuyết, 1937), “Thoát ly” (tiểu thuyết, 1938), “Đợi chờ” (tập truyện, 1939), “Hạnh” (tập truyện, 1940), “Thừa tự” (tiểu thuyết, 1940), “Đẹp” (tiểu thuyết, 1941), “Đồng bệnh” (kịch, 1942), “Thanh Đức” (tên gọi phổ biến hơn là “Băn khoăn”, tiểu thuyết, 1943), “Cái ve” (tập truyện, 1944)…

“Nửa chừng xuân” nằm ở điểm khởi động của giai đoạn Khái Hưng bùng nổ. Sau “Hồn bướm mơ tiên”, “Nửa chừng xuân” là cuốn tiểu thuyết gây tiếng vang lớn, một hiện tượng “sách bán chạy” vào thời kì đó. Cuốn sách cũng đi theo mô hình đăng báo rồi sách rất phổ biến của Tự lực văn đoàn. Ngay khi kết thúc đăng nhiều kì trên Phong Hóa, “Nửa chừng xuân” được in ở An Nam xuất bản cục (tiền thân của Nhà xuất bản Đời Nay nổi tiếng về sau). Ngày 25-5-1934, Phong Hóa đăng thông cáo cho biết “Bắt đầu từ nay, Tự  lực văn đoàn đặt giải thưởng hằng năm để tặng những tác phẩm (tiểu thuyết, phóng sự, khảo luận, thi ca, kịch, sử ký…) có giá trị và hợp tôn chỉ của đoàn.

Giải thưởng năm 1935 sẽ tặng riêng tiểu thuyết: Giải nhất: 100 đồng; Giải nhì: 50 đồng. Tiền thưởng này lấy ở tiền lãi cuốn “Nửa chừng xuân” mà ông Khái Hưng đã biếu Tự lực văn đoàn. Nếu bán hết “Nửa chừng xuân” thì đủ tiền đặt giải thưởng trong bốn, năm năm, mỗi năm hai giải thưởng như trên”. Thông cáo này không chỉ là mánh lới quảng cáo ngầm “Nửa chừng xuân” mà còn cho thấy các yếu nhân của Tự lực văn đoàn tin vào thắng lợi tất yếu trên thị trường văn chương của cuốn tiểu thuyết này. Tại sao “Nửa chừng xuân” lại có khả năng đó?

1.png -0
Minh họa "Nửa chừng xuân" trên báo Phong Hóa.

2. Có thể nói “Nửa chừng xuân” đã báo hiệu những tiếng nói dữ dội, dứt khoát hơn trong việc biểu dương cái mới và triệt tiêu cái hủ tục, lạc hậu mà Tự lực văn đoàn đang ngày một quyết liệt cả trong văn chương lẫn những hoạt động thực tế. “Đời cô Mai” tạo tiền lệ cho “Đời cô Loan” (Đoạn tuyệt, 1936) dệt nên một trong những câu chuyện dữ dội, lạ lùng bậc nhất của văn học Việt Nam hiện đại: phụ nữ sẵn sàng chấm dứt những trói buộc hôn nhân môn đăng hộ đối, để tự định đoạt lấy cách hạnh phúc và giá trị của mình. Đây là một cuộc đấu tranh giữa cũ – mới và là cuộc đấu tranh bởi người nữ.

Tình thế người phụ nữ trực tiếp tham gia hoán cải môi trường sống, đương nhiên, sẽ làm mất mặt xã hội đạo đức kiểu Nho giáo và dự báo trước những chông gai, biến cố khó lường. Là hiện thân của “gái mới”, Mai không chỉ biết cách ăn vận “quần trắng áo màu trông có vẻ đẹp lộng lẫy […] ở quê ra tỉnh mới hơn một năm, nàng đã phục sức được hệt một thiếu nữ tân thời” mà đáng kể hơn, Mai còn có học thức, “rất thông minh”, “biết yêu người ở ngoài vòng lễ nghi”, luôn có chủ kiến trong mọi việc. Và đặc biệt, trong và sau cuộc tình với Lộc, Mai không hề nhượng bộ trước đòi hỏi vô lý của lề lối đạo đức cũ. Trên Phong Hóa, Nhất Linh nêu ra một so sánh để khẳng định điểm riêng mới của “Nửa chừng xuân”: “Bọn trẻ, nhất là về phái yếu, đương ở vào thời kì náo nức ham sống, sống một cách hoàn toàn sung sướng, nếu gặp sự cản trở về đường tình ái, tất nhiên là thất vọng, chán nản […] Cô Mai trong “Nửa chừng xuân” cũng thất vọng nhưng cô khẳng khái không chịu khuất phục bằng cách quyên sinh, cũng không chịu khuất phục bằng cách trở về cái cũ - việc mà cô có thể làm được, cô cứ cứng cỏi mà sống yên lặng không than vãn, vui lòng hy sinh hạnh phúc ở đời” (Phong Hóa số 86, ra ngày 23-2-1934). Như vậy, sức hấp dẫn, đắt hàng của “Nửa chừng xuân” là bởi đã đáp ứng rất đích đáng những “đơn hàng” khẩn thiết của số đông đang hướng theo lối sống mới, đoạn tuyệt với đời cũ.

Để đoạn tuyệt với đời cũ, Khái Hưng và Tự lực văn đoàn cũng phải xuất phát từ quy luật vận động tạo lập giá trị mới. Khát khao cách tân văn hóa đồng nghĩa với quá trình khắc phục, chối bỏ những giá trị cũ đã tồn tại đến mức bảo thủ. Để làm được điều này, ít nhất họ phải dựa trên hai nền tảng: Thứ nhất là nhận thức mang tính triết học về vai trò con người cá nhân. Thứ hai là nhu cầu thẩm mỹ, tìm kiếm những cái đẹp mới, trong đó có thẩm mỹ văn chương. Ở điểm thứ hai này, ta nhận ra xu hướng chống lại quan niệm về tiêu chuẩn uyên bác trong văn chương trung đại, hướng tới việc phá vỡ tính chất đăng đối (mà đối ngẫu trong tổ chức văn xuôi là biểu hiện rõ nhất), giải phóng ngôn ngữ ra khỏi tính chất kinh viện.

2.jpg -0
Một cách thức quảng bá "Nửa chừng xuân" rất đáng để văn đàn hôm nay học theo!

Với Khái Hưng, bởi có năng khiếu hội họa, ông đã chuyển hóa cái nhìn họa sĩ trong từng câu văn miêu tả thiên nhiên lẫn tâm trạng. Trong khi miêu tả tâm trạng, Khái Hưng thường đưa lời bình luận trực tiếp của người kể chuyện. Hệ thống nhân vật trong “Nửa chừng xuân” đi theo trục bổ đôi ngay từ đầu: một tiêu biểu cho lối sống mới, hướng đến tự do hôn nhân, tự lập thân (Mai); một đại diện cho lề thói đạo đức cũ, coi trọng môn đăng hộ đối, ép buộc con cái sống theo khuôn mẫu gia phong lạc hậu, bất nhân (bà án, Lộc).

Thông qua trục đối thoại, xung đột cũ - mới càng hiện lên rõ nét, những khát vọng và sức sống mạnh mẽ của lớp người trẻ như Mai, Huy sẽ được đề cao trong khi nếp nghĩ cũ kĩ, trái khoáy của Lộc, bà án sẽ bị lật mặt giả dối. Trên đà tiến của xã hội đang từng ngày canh tân, toàn bộ “Nửa chừng xuân” là một cuộc đối thoại lớn với thời đại, với thế hệ còn bám víu những luật lệ cũ. Đứng đằng sau chuyển biến đó, như Khái Hưng nhận định, chính là nền giáo dục mới, “một nền giáo dục có thể gọi là lãng mạn”. Chấp nhận trạng thái “nửa chừng xuân” (theo ngôn ngữ hiện nay chính là “mẹ đơn thân”) để tiếp tục sống cảnh tự do, tự trọng và tự lập, Mai là một hình mẫu lý tưởng để những người trẻ đương thời nhận diện và vươn tới. Dĩ nhiên, nó quá khó.

3. Trong số những tiếp nhận đầu tiên về “Nửa chừng xuân”, cũng đã có độc giả tập trung nhận diện lối viết, ngôn từ của Khái Hưng. Độc giả Tế Xuyên cho rằng Khái Hưng chịu ảnh hưởng của J. Rousseau lẫn G. Sand và tỏ ra “thích lối văn giản dị, êm đềm”. Cùng quan điểm, độc giả N. T. Luật nhận định: “Văn ông hơn người ở chỗ bình dị, trôi chảy, không dùng khóe văn vụn vặt, không khoe chữ như các ông văn sĩ khác”.

Những phát hiện tinh tế, chính xác của độc giả đương thời không chỉ đúng với “Nửa chừng xuân” mà dường như cũng khá chuẩn xác với văn chương Khái Hưng. Lối viết nhẹ nhàng nhưng đa dạng góc nhìn tâm lý của Khái Hưng sẽ là sự bổ sung cần thiết cho sự dữ dội, quyết liệt của Nhất Linh. Trong ý nghĩa đó, nhìn lại Tự lực văn đoàn, người xứng đáng với danh hiệu tiểu thuyết gia nhất, người có công xây dựng thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại chắc chắn phải là Khái Hưng.

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?