Hát Rang - Nét đẹp văn hóa của dân tộc Mường

Nói đến Phú Thọ, nhiều người thường nhớ đến các di sản văn hóa phi vật thể như Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Đó là những giá trị văn hóa được thế giới thừa nhận và tôn vinh. Bên cạnh đó, còn nhiều làn điệu dân ca, nhiều câu hát giá trị khác nữa, mà hát Rang của người Mường là một điển hình.

Hát Rang xuất hiện và lưu truyền nhiều nhất tại 4 huyện Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập và Thanh Thủy (theo địa bàn tỉnh Phú Thọ cũ) là một lối hát dân gian thường được sử dụng trong các dịp lễ hội, sinh hoạt cộng đồng, hoặc các buổi giao lưu văn hóa. Khi người Mường cất lên câu hát Rang là khi kể những câu chuyện sử thi, truyền thuyết, ca ngợi cuộc sống lao động, phong tục tập quán và tín ngưỡng tốt đẹp, có thể cất lên với không gian và thời gian không giới hạn.

1.jpg -0
Hát Rang trong lễ cưới của đồng bào dân tộc Mường huyện Tân Sơn. Ảnh: Trọng Bằng

Có dịp đến Yên Lập, tìm hiểu nét đẹp văn hóa hát Rang tại Yên Lập, chúng tôi nhận thấy nơi đây vốn là vùng đất hội tụ nhiều nét văn hóa đặc trưng, độc đáo của 32 dân tộc anh em cùng sinh sống. “Điểm nhấn trong hoạt động văn hóa hàng năm của Yên Lập là các lễ, lễ hội truyền thống gắn với nhiều thể loại văn nghệ dân gian của đồng bào Mường, Dao như: Lễ hội đóng cửa rừng, mở cửa rừng, múa trống Đu, múa Sênh Tiền, múa Mỡi, hát Ví, hát Rang, hò Đu của người Mường” (Theo Cẩm Nhung - Báo Phú Thọ).

Hát Rang là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mường ở Yên Lập. Theo ông Vũ Đình Thu - nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Yên Lập (cũ): “Hát Rang, hát ví… là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào Mường, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người lao động từ thời xa xưa”.

Đã có một số bài viết nghiên cứu về hát Rang. Tuy nhiên, các bài viết đó thường bó hẹp trong quy mô theo địa bàn tỉnh cũ (Thanh Hóa, Hòa Bình, Phú Thọ….), chưa có nhiều công trình nghiên cứu mang tính tổng thể nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của điệu hát dân ca đặc sắc của đồng bào dân tộc Mường” nói chung về hát Rang. Nếu như nói về một tác phẩm văn học có giá trị, người ta thường xem xét ở hai khía cạnh nội dung và nghệ thuật thì khi tìm hiểu về Hát Rang nói riêng và các ca khúc âm nhạc nói chung, người nghe thường lưu tâm đến ca từ và giai điệu.

Hát Rang khởi nguồn từ đời sống của người dân lao động, lưu truyền bằng hình thức truyền miệng, từ đời này qua đời khác. Chưa có tài liệu nào ghi chép được chính xác thời điểm xuất hiện của hát Rang. Nhưng theo các bậc cao niên ở Yên Lập thì hát Rang ra đời từ rất lâu, có thể tồn tại song hành với sử thi "Đẻ đất, đẻ nước" (Te tấc te đác) vốn nổi tiếng trong lịch sử văn hóa, văn học của dân tộc Việt Nam.

Nội dung hát Rang gần với ngôn ngữ giao tiếp, với đời sống thường ngày; âm thanh mộc mạc như lời tâm tình nhẹ nhàng, thủ thỉ mà chan chứa tình người, tình đời; thể hiện khát vọng sống cao đẹp và ca ngợi những giá trị lâu bền của đời sống văn hóa và tâm thức Việt.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, hát Rang thường có hai loại, loại thứ nhất, kể những câu chuyện sử thi, truyền thuyết, các truyện thơ dân gian, ca ngợi cuộc sống lao động, phong tục tập quán và tín ngưỡng tốt đẹp của người lao động. Loại thứ hai nghiêng về nội dung sinh hoạt trong cuộc sống lao động sản xuất như hát mừng nhà mới, hát đám cưới, hát đón lúa, lên nương, vào rừng, hát ru và hát giao duyên, bày tỏ tâm tư, tình cảm nam nữ ...

Mỗi làn điệu, mỗi câu hát Rang thường linh hoạt về số lượng ca từ, không hạn chế đối tượng diễn xướng, thể hiện tình yêu của mọi lứa tuổi đối với loại hình nghệ thuật mang nét riêng đáng trân trọng này. Lời hát Rang ca ngợi công ơn đấng sinh thành, bày tỏ tình yêu và sự tôn kính cha mẹ:

Máng ho dưa con quay về
Cái cưa mén nhà
Pớ cưa lang…
(Mẹ đưa tôi quay về
Phát nương làm rẫy,
Chặt gỗ làm nhà)

(Trích Rang ca ngợi công ơn mẹ cha).

Trong đám cưới, hát Rang thể hiện những giai điệu vang ngân như lời cầu chúc cho hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Trong dịp về nhà mới, hát Rang như lời nhắn nhủ chân thành, trách nhiệm của cha mẹ mừng cho con cái. Mỗi câu hát đều là sự chắt lọc, là câu chuyện kể về những gian nan, vất vả của cuộc sống nhưng vẫn toát lên niềm vui hân hoan, niềm tự hào khi được làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời của người dân lao động. Mỗi câu hát Rang như một thông điệp về cuộc sống đẹp với sự no ấm, đủ đầy:

Con hãy chịu khó
Chặn chút làm 5, làm 10
Để có lúa đầy nhà, có tiền đầy túi
Giàu từ bố đến con, giàu nhiều vàng nhiều bạc, giàu có khách đầy nhà.

(Trích hát Rang mừng đám cưới).

Đặc biệt, mỗi năm, khi xuân về trên vách núi, bìa rừng, trên bản làng, khi mọi người quây quần bên nhau vui vẻ, ấm cúng thì người Mường Yên Lập vừa uống rượu, chúc tụng nhau vừa hát những câu Rang đón mừng xuân về, Tết đến. Và trong không khí thiêng liêng của đất trời giao hòa đầu xuân, người lao động kính cẩn mời các cụ tổ tiên trên trời về ăn Tết với cháu con qua điệu hát Rang thắm nghĩa, đượm tình.

Khi trong lòng người náo nức, ngập tràn cảm xúc muốn ngân lên thành giai điệu, muốn truyền thông điệp tới nhiều người, lan tỏa niềm vui thì dân ca xuất hiện. Từ nhỏ, tôi đã rất thích truyện "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài, ý thích ấy bắt nguồn từ nhiều lẽ, nhưng sâu đậm nhất trong ký ức là tiếng sáo đêm tình mùa xuân đánh thức khát vọng ngủ sâu bấy lâu trong tiềm thức cô Mỵ trẻ trung xinh đẹp nhưng nét mặt luôn u buồn vì bị ép về làm dâu nhà thống lý Pá Tra. Ấy vậy mà khi mùa xuân về, tiếng sáo, tiếng khèn lá khiến tâm hồn cô gái trẻ hồi sinh.

22.jpg -1
Hát Rang trong lễ cúng vía lúa của người Mường huyện Tân Sơn.

Hát Rang của người Mường neo đậu nơi trái tim người đọc bởi sự hình dung về gương mặt, động tác, ánh mắt, nụ cười của người hát:

Máng eng thiếng po rên lá lá
Em thiếng po rên quen quen
Chăng hay pán thim thì thim theng
Mà eng từ duyên nay máng cặp lái là ủn.
(Anh nghe tiếng sao như là lạ
Anh nghe tiếng sao như quen quen
Chẳng hay đây có phải là tình yêu lâu ngày gặp
Mà nghe từ duyên này anh lại gặp em)

(Trích hát Rang đối đáp).

Trong đời sống văn hóa dân tộc, dân ca luôn là thể loại được yêu thích và phổ biến rộng rãi. Nếu ca Huế mênh mang trên dòng sông Hương, hát quan họ nổi danh vùng Kinh Bắc thì bên cạnh hát Xoan, Phú Thọ còn có làn điệu dân ca hát Rang đặc sắc, thể hiện nét đẹp văn hóa của dân tộc Mường, rất cần được nghiên cứu, bảo tồn và phát huy. Thiết nghĩ, tìm về nguồn cội, trân trọng quá khứ là xu thế tất yếu của xã hội văn minh và việc giữ gìn văn hóa Mường là giữ gìn văn hóa Việt, bản sắc Việt.

Đỗ Nguyên Thương

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.