Hát bội Nam bộ: Cần khơi dòng sông cạn

Đào tạo (truyền dạy truyền nghề) là một trong những hoạt động quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật Hát bội, xem như là “thiên chức” cao cả của những người đang tham gia thực hành di sản nghệ thuật sân khấu truyền thống độc đáo này. Nếu không có truyền dạy sẽ không có thế hệ kế thừa, Hát bội không thể tồn tại. Nhưng hiện nay, công tác đào tạo lực lượng diễn viên, nhạc công - linh hồn của Hát bội ở Nam bộ đang gặp phải những khó khăn...

Hai dòng chảy đào tạo Hát bội ở Nam bộ

Hát bội (còn gọi là Tuồng, hay Hát bộ) là một trong những di sản văn hóa phi vật thể hàm chứa những giá trị vô cùng phong phú và quý báu, được thể hiện bằng sự sáng tạo của người nghệ sĩ thông qua hoạt động biểu diễn trực tiếp trước công chúng. Theo dòng chảy chung của nghệ thuật sân khấu truyền thống dân tộc, Hát bội miền Nam được nhiều thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân, soạn giả, đạo diễn dày công vun đắp.

buoi dao tao hat boi.jpg -0
Buổi đào tạo hát bội.

Xưa nay, hoạt động đào tạo lực lượng kế thừa sân khấu Hát bội luôn diễn ra với nhiều phương thức khác nhau, ứng với từng giai đoạn lịch sử và hoàn cảnh xã hội cụ thể. Không ít gia đình nhiều đời truyền nghề tiếp nối nhau làm rạng danh cho dòng tộc. Gia tộc cố NSND Thành Tôn (Cha ruột của NSƯT Thành Lộc & NS Bạch Long) có nhiều đóng góp cho sân khấu Hát bội. Ông cố của ông là nghệ sĩ Nguyễn Thành Sĩ (bầu Sĩ), ông nội là nghệ sĩ Nguyễn Thành Luông (bầu Luông), ba ruột là nghệ sĩ Nguyễn Thành Nở (bầu Nở).

Hay như gia tộc của cố nghệ sĩ Huỳnh Mai (mẹ ruột của NSƯT Thành Lộc & NS Bạch Long) cũng nhiều đời theo nghệ thuật Hát bội. Ông bà nội của bà là cặp nghệ sĩ Hát bội nổi tiếng Vĩnh - Xuân; Cha ruột là nghệ sĩ Nguyễn Văn Thắng (bầu Thắng); Anh trai là cố NS Minh Tơ (Ba của cố NSND Thanh Tòng)… Tất cả các con cháu được thế hệ trước (ông/bà, cha/mẹ) truyền dạy nghề ca - múa - diễn nhằm tiếp nối truyền thống của gia đình, dòng tộc.

Bên cạnh việc truyền dạy Hát bội theo kiểu “cha truyền con nối” như vừa đề cập, ở Nam bộ từng có hai cơ sở giáo dục chuyên nghiệp đào tạo về Hát bội đó là Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn được thành lập trước năm 1975 (Nhạc viện TP Hồ Chí Minh hiện thời) và Trường Nghệ thuật Sân khấu II thành lập sau ngày đất nước thống nhất (Đại học Sân khấu và Điện ảnh TP Hồ Chí Minh ngày nay).

Hai cơ sở đào tạo chuyên nghiệp này đều tổ chức tuyển sinh chuyên ngành diễn viên và nhạc công Hát bội với các môn thi đầu vào bao gồm: năng khiếu (kiểm tra các tố chất: sắc vóc, ca và diễn, tiếng nói sân khấu, kỹ năng chơi nhạc cụ truyền thống) và các môn kiến thức xã hội như: ngữ văn, phân tích tác phẩm sân khấu… theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thời bấy giờ.

Khi trúng tuyển, học viên được trang bị kiến thức một số môn học thuộc lĩnh vực văn hóa - khoa học - xã hội và được truyền thụ những môn học cơ bản liên quan đến nghiệp vụ chuyên môn như: kỹ thuật biểu diễn, vũ đạo truyền thống và võ thuật, vai diễn mẫu, hóa trang, hình thể sân khấu,… Với đội ngũ truyền dạy là những nghệ nhân, nghệ sĩ thạo nghề Hát bội như các nghệ sĩ: NSND Thành Tôn, NSND Năm Đồ, NSND Đinh Bằng Phi, NSƯT Minh Biện, NSƯT Ngọc Khanh, NS Ba Đắc, NS Ba Út, NS Hữu Thoại, NS Chín Tài, NS Hoài Nhân.v.v… Họ đã đào tạo lực lượng nổi danh cho sân khấu Hát bội miền Nam như các nghệ sĩ: NSƯT Ngọc Dung, NSƯT Kim Thanh, NSƯT Xuân Quang, NSƯT Hữu Danh, NSƯT Linh Hiền,…

Sông đang cạn nguồn

Trong nghệ thuật sân khấu, diễn viên là lực lượng trung tâm của vở diễn, nhưng hiện nay hầu hết các đơn vị nghệ thuật sân khấu truyền thống nói chung (không riêng gì Hát bội) đang thiếu lực lượng diễn viên và nhạc công. Bởi vì từ năm 1980 đến nay, Hát bội không còn được đào tạo trong hệ thống giáo dục chính thống ở Nam bộ. Công tác đào tạo Hát bội chưa thể hiện tính “ưu việt” và chưa phát huy vai trò quan trọng trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị Hát bội trên mảnh đất phương Nam.

vo dien sac ngoc an phuong nam.jpg -0
Vở diễn “Sắc ngọc an phương Nam”.

Để giải quyết sự thiếu hụt lực lượng trẻ, những năm qua, Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP Hồ Chí Minh đã tổ chức đào tạo diễn viên sân khấu (chưa đào tạo nhạc công) theo phương pháp truyền nghề tại đơn vị. Đây là giải pháp được Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh và Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP Hồ Chí Minh quyết tâm thực hiện nhằm mục đích tìm kiếm và đào tạo lực lượng kế thừa cho Hát bội.

Theo Thạc sĩ Võ Hồ Hoàng Vũ (Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP Hồ Chí Minh thì đến nay, đơn vị đã tổ chức thành công khoảng 5 - 6 lớp tập huấn truyền nghề Hát bội gồm các môn học như: vũ đạo, các làn điệu Hát bội, các vai diễn mẫu, nghệ thuật hóa trang, tiếng nói sân khấu… Thành phần Ban giảng huấn gồm có: NSƯT Ngọc Dung, NSƯT Kim Thanh, NSƯT Ngọc Nga, NSƯT Linh Hiền, NSƯT Xuân Quan, NSƯT Linh Phước, NSƯT Thanh Trang, NSƯT Hữu Danh.v.v… Nhờ vậy mà Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP Hồ Chí Minh hiện đang sở hữu trên dưới 15 diễn viên trẻ, trong đó có những tài năng đã trưởng thành, đạt nhiều huy chương, giải thưởng ở địa hạt Hát bội, tự tin đảm nhận những vai diễn chính trong các vở diễn của Nhà hát như các diễn viên: Bảo Châu, Ngọc Giàu, Kiều My, Hoàng Tuấn, Hoàng Hà…

Tìm hướng đi thích hợp cho tương lai

Hát bội đang đứng trước nguy cơ mai một dần bởi những tác động đa chiều của xã hội đương đại. Nhìn một cách khách quan, Hát bội chưa được quan tâm, bảo tồn một cách tích cực, đúng hướng và đang dần lu mờ vị trí trong đời sống cộng đồng. Trong khi đó, thế hệ trẻ chưa đủ thực lực để gánh vác trọng trách di sản của ông cha để lại do không được trau dồi học tập một cách căn cơ, bài bản từ môi trường đào tạo chuyên nghiệp. Điều này đặt ra mối quan ngại lớn cho sự tồn tại của nghệ thuật Hát bội trong tương lai. Để công tác đào tạo nghệ thuật Hát bội được tốt hơn, xin gợi mở một số hướng đi thích hợp.

TP Hồ Chí Minh sớm ban hành Kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Hát bội trên địa bàn và triển khai thực hiện theo từng giai đoạn cụ thể (mỗi giai đoạn từ 3 - 5 năm). Trong đó, phải chú trọng đến công tác đào tạo. Mời các chuyên gia, nhà sư phạm nghệ thuật truyền thống xây dựng chương trình khung đào tạo Hát bội thật chi tiết, cụ thể. Đồng thời, mời các nghệ nhân, nghệ sĩ Hát bội có chuyên môn sâu tham gia giảng dạy (từ căn bản đến nâng cao), tạo cơ hội cho diễn viên trẻ mở rộng kiến thức, nắm vững tri thức nghề nghiệp (lý thuyết cơ sở ngành) và kỹ năng thực hành (tức ca-múa-diễn-hóa trang…).

Thành phố cần thường xuyên mở các lớp đào tạo về: nhạc công, thiết kế mỹ thuật, sáng tác kịch bản cho sân khấu Hát bội (mỗi lớp từ 3 đến 6 tháng). Đây là công việc vô cùng cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, mở lớp bồi dưỡng kiến thức chung về Hát bội phục vụ các đối tượng: diễn viên, nhạc công đang hoạt động tự do và lực lượng công chúng trẻ (sinh viên - học sinh) ở TP Hồ Chí Minh.

Ngoài kiến thức chuyên môn, các nghệ sĩ Hát bội (diễn viên trẻ) cần trau dồi kiến thức ngoại ngữ, để có thể giao tiếp tốt với công chúng và du khách nước ngoài, nhằm giới thiệu, quảng bá các giá trị tốt đẹp của di sản Hát bội. Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP Hồ Chí Minh cần mạnh dạn đưa lớp trẻ (nhạc công, diễn viên) tham gia những vở diễn quan trọng do đơn vị thực hiện, tạo điều kiện cho các bạn cọ xát với thực tế nhiều hơn.

Công tác quảng bá, giới thiệu Hát bội đến công chúng qua hệ thống truyền thông cần được chú trọng. Các cơ quan báo/đài thường xuyên cập nhật thông tin về hoạt động biểu diễn của nghệ sĩ Hát bội đến công chúng TP Hồ Chí Minh.

Hơn lúc nào hết, cần khẩn trương thực hiện giải pháp cải thiện chất lượng đào tạo nghệ thuật Hát bội ở Nam bộ. Nếu thực hiện đúng, nghiêm những giá trị độc đáo của Hát bội miền Nam mà các thế hệ tiền bối đã dày công vun đắp qua chiều dài lịch sử sẽ không mai một, biến dạng hoặc thất truyền.

Phạm Thái Bình

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".