Eng miềng đau bẹ nác đa xeng

Đã người Việt ắt hiểu tiếng Việt? Chưa chắc. Tùy vùng miền, còn có cả tiếng địa phương - chính phương ngữ này góp phần giúp vốn từ tiếng Việt thêm phong phú, thêm nhiều sắc thái biểu cảm. Có lẽ dẫn chứng sinh động vẫn là… từ thơ chăng? Ta hãy đọc khổ thơ này, nghe đâu được nhiều người Quảng Trị "bình chọn" là tiêu biểu nhất về lời ăn tiếng nói ở "quê miềng". Nhà báo, nhà thơ Ngọc Hồ đã cung cấp văn bản:

Ngó lên côi đôộng chộ xeng xeng

Rú nậy rào su nác chảy queng

Cà lơ đương xuốc cươi phơi lúa

Eng miềng đau bẹ nác đa xeng.

"Ngó lên/ trông lên/ nhìn lên" vốn là mô-típ quen thuộc trong ca dao: "Ngó lên sao tỏ trăng lờ/ Duyên đây bớ bậu, bậu chờ duyên đâu", "Ngó lên chót vót ngọn cây bầu/ Thấy đôi diệc đậu em sầu phận em", "Ngó lên nuộc lạt mái nhà/ Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu"… Ngó là nhìn có chú tâm để mắt đến, thí dụ "Đánh chó ngó chủ", lưu ý xem trước sau, cũng tựa như "Chặt tre phải dè đầu mắt". Với ý thức để tâm để mắt đến, nên mới thấy rõ "côi đôộng", từ "côi" này, ta đã gặp trong câu "Mẹ góa con côi", vậy có liên quan gì không? Đọc câu hò này, ta sẽ dễ dàng suy luận:

Nữ:

Tiếng đồn anh hay chữ

Em hỏi thử vài lời

Dưới dương gian có họ, rứa côi trời họ chi?

Nam:

Em nghiêng tai xuống đất

Kêu cho đất ơi

Tới đây anh nói họ ông trời cho em nghe

Ta hoàn toàn có thể biết côi/ côi trời là trên trời. Về từ "đôộng", nếu ghi theo tiếng Việt toàn dân vẫn cùng nghĩa là "động", chính là chỉ cái hang núi, Từ "động" theo nghĩa này, ngày trước Chúa Trịnh khi lên chơi động Hương Tích đã khen, đã gọi "Thiên Nam đệ nhất động". Trong bài thơ này, khi nhìn  lên động tác giả chộ/ thấy "xeng xeng", ta hiểu "xanh xanh" bởi thổ âm Quảng Trị phát âm "eng" chính là "anh".

Suy ra câu thứ 2: "Rú nậy rào su nác chảy queng" thì "chảy queng" là "chảy quanh"; "nác" là tiếng Việt cổ mà “Từ điển Việt-Bồ-La” (1651) đã ghi nhận: "nước"; "rào su" thì rào là sông, su là sâu; rú là rừng/ rừng rú, nậy là to, lớn.

Câu thứ 3: "Cà lơ đương xuốc cươi phơi lúa", do có từ "phơi lúa", ta biết động tác này là của ai đó. "Đương" là gì? Trong truyện thơ Lục Vân Tiên có câu: "Bao giờ cho tới bắc phang/ Gặp chuột ra đàng, con mới nên danh" - "phang" chính là "phương" như ta còn gặp trong biến âm của tràng: trường, đàng: đường v.v... Thế thì, "đang" cùng nghĩa là "đương" và ngược lại.

Eng miềng đau bẹ nác đa xeng -0
Làng cổ Bích La (Quảng Trị) - ảnh tư liệu.

Cà lơ đang xuốc, vậy "xuốc" là gì? Thật dễ hiểu nếu ta biết đến vật dụng thể hiện động tác trong câu đố: "Trong nhà có bà hay la hay lết". Là đố cái gì? Là cái chổi dùng để quét nhà, quét sân. Tục ngữ có câu: "Bói ra ma, quét nhà ra rác". Ở đây, không phải xuốc/ quét nhà mà chính là quét cươi. Cươi là sân. Tục ngữ có câu: "Sấm tháng Mười cày cươi mà cấy", kinh nghiệm của bà con nông dân ở vùng Quảng Trị, Quảng Bình cho biết đến tháng 10 Âm lịch vẫn mưa nhiều, dẫu có cày sân trước nhà lên mà cấy thì cũng ê hề nước, cũng được mùa.

Vậy, ai "đương xuốc cươi phơi lúa/ đang quét sân phơi lúa"?

Rắc rối nhất là từ "cà lơ", theo “Đại từ điển tiếng Việt” (1999): "Thiếu đứng đắn, lâng láo trong cung cách, thường dùng để chỉ bọn người lêu lổng, du đãng", e rằng cách giải thích này cần xem lại, cà lơ là từ chỉ trạng thái đi lửng lơ, lang thang, không chủ đích của ai đó vô công rỗi nghề, ở mức độ cao hơn còn có "cà lơ phất phơ", chứ du đãng du côn, du thủ du thực gì đây? Từ cà lơ, người miền Nam xưa còn dùng từ cùng nghĩa: "cà xiềng: ngao du không biết công chuyện chi mà làm. Bá lếu, không nên sự gì", theo "Đại Nam quấc âm tự vị" (1895).

Như vậy, cà lơ không thể là từ nhằm chỉ ai đó làm động tác nêu trên. Cần phải hiểu theo nghĩa của tiếng Việt toàn dân mà dưới thời vua Minh Mạng, Bà Huyện Thanh Quan đã sử dụng: "Lơ thơ dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông rợ mái nhà" - chính là từ "rợ" - là dân tộc ít người. Ở Quảng Nam xưa, khi nói ai đó có cái bụng bí rợ là chỉ cái bụng đó to tròn như thùng nước lèo, thùng tô nô, nói như dân nhậu thời @ là bụng bia; tính rợ là tính nhẫm trong đầu, không cần ghi ra giấy; bi rợ là bí tròn, trồng trên nương rẫy.

Câu thứ 4: "Eng miềng đau bẹ nác đa xeng", về từ "xeng", ta đã hiểu là "xanh", suy ra "eng" là "anh"; "miềng" là "mình"; "đa" lại chính là "da" như ta đã có các từ cùng nghĩa dù thay đổi giữa "đ" và "d", thí dụ: cây da/ cây đa, cái đĩa/ cái dĩa…; về từ "nác" ta đã biết là "nước". Éo le nhất ở câu này, chính là từ bẹ/ đau bẹ, nghĩa là gì?

Ngày xưa, lúc thất bát hoặc giáp mùa, người ta cải thiện bữa ăn cho đỡ đói còn bằng cách nấu "cháo bẹ" là nấu từ ngô/ bắp còn non; khác với "cháo ngô" là hạt ngô già đem xây nát, mịn, quậy lên thành cháo. Như vậy bẹ hiểu theo nghĩa này không thể áp dụng cho câu thơ trên. Không sao cả, ta sẽ tìm ra "đáp án" khi đọc lại câu văn trong tiểu thuyết "Lều chõng" của Ngô Tất Tố: "Khi đi, người rất béo tốt, lúc về mặt mũi xanh xao, chẳng khác gì người ngã nước". Đau bẹ, chính là ngã nước, là bị nước độc mà đau ốm, sốt rét.

Từ những câu thơ thể hiện theo lời ăn tiếng nói của người Quảng Trị, ta hoàn toàn có thể hiểu như sau:

Ngó lên trên động thấy xanh xanh

Rừng lớn sông sâu nước chảy quanh

Người rợ đang quét sân phơi lúa

Anh mình sốt rét nước da xanh

Câu chuyện về vỡ lòng tiếng Quảng Trị, ta tạm dừng ở đây được chưa? Chưa. Vì sau khi nghe giải thích cảm thấy ưng bụng quá, chi bằng ta tiếp tục thêm một vài từ khác nữa. Ta hãy đọc một khổ thơ in trong tập "Eng về Quảng Trị đi em" (NXB Hội Nhà văn) của nhà thơ Ngọc Hồ với nhan đề "Tra rồi, đi bắt rế".

Với từ "tra", ngay lập ta nhớ đến câu tục ngữ như "Tra chân vào cùm"; hoặc các cách nói như tra ngô, tra đậu; tra muối vào canh, lại có câu: "Chèo ghe đi bán cá tra/ Nài bán mỗi nhà, chỉ có mấy con" (ca dao Nam Bộ); "Em hỏi anh chữ chi là chữ chôn xuống đất/ Chữ chi là chữ cất trên tra?" (hò Huế): "Thịt ếch ăn với bù khô/ Ăn tra đời trót kiếp" (Hát dặm Nghệ Tĩnh)… Vậy, từ nghĩa của các câu này, ta có thể áp dụng để hiểu từ "tra/ tra rồi"? Tra có nghĩa là già.

Câu này còn có từ khó hiểu là "rế/ bắt rế", vì rằng, khi nói đến cái rế, tôi dám chắc không người miền Trung nào lại không nhớ hồi nhỏ một khi trong làng có đám cưới. mình đã từng theo bạn bè hò reo ầm ĩ: "Cô dâu chú rể đội rế lên đầu".  Cái rế là cái gì? Thay vì giải thích lòng vòng, ta hãy vận dụng tục ngữ: "Ăn trôi nồi thủng rế", "Hỏng nồi vơ rế", "Rế rách đỡ nóng tay", "Chổi cùn rế rách"…  Có thể hiểu rế là là đồ đan bằng tre, mây, vành tròn, nông trèn trẹt, có công dụng là khi hạ nồi, niêu, trách, trã trên bếp mình đặt vào đó. Một khi đã hiểu từ "rế", ta thấy câu "rế/ bắt rế" là vô nghĩa, bởi với cái rế không ai dùng từ này, phải là lấy/ đưa/ cầm, chứ? Rế ở đây là dế/ con dế. Lúc ấy:

Cỏ đẫm sương chin miềng đi thè thẹ

Tiếng reng reng loang đưới bại côi bờ

Tim bịch bịch răng tôi hồi hộp dữ

Té ra đương rình bắt lại tuổi thơ

Ta lại không hiểu câu 1, dẫu có tra từ điển phổ thông từng trang, từng từ ắt không ai tìm ra nghĩa của từ "chin miềng"; rồi khi nói về động tác đi ắt ai cũng nhớ đến các từ như đi dạo, đi hai hàng, đi chân chữ bát, đi nhanh, đi chậm, đi rảo, đi sè sẹ… Vậy "đi thè thẹ" là đi làm sao? Là đi nhè nhẹ. Cái gì đi? Đi bằng cái gì/ Cái chân, chứ còn gì nữa, vậy suy ra "chin miềng" là "chân mình".

Câu thơ thứ 2 cũng "đánh đố" người đọc: "Tiếng reng reng loang đưới bại côi bờ". Về tiếng reng reng, ta hiểu đại khái là âm thanh như tiếng chuông rung liên tục thành hồi dài và nhanh; nhưng với từ "đưới/ đưới bại" thì… ta bó tay toàn tập. Trong tiếng Việt toàn dân, bản thân từ "đưới" có nghĩa gì không? Đã thế, lại còn  "đưới bại" thì có lẽ nhiều người không hiểu. Xin giải thích, "tiếng reng reng" là âm thanh kêu ri ri của con dế; "đưới bại côi bờ" là dưới bãi trên bờ.

Kế tiếp, câu 3: "Tim bịch bịch răng tôi hồi hộp dữ". Răng là sao, về từ bịch, ta hiểu là thứ bồ to dùng đựng thóc, là tiếng kêu nặng như ngã cái bịch. Nhưng khi nói "bịch bịch" là hiểu theo nghĩa tiếng vỗ bao bị đựng đầy; là tiếng vỗ bụng khi ăn no như ta gặp trong Hàn nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ:

Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no,

Đêm năm canh, an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ.

Câu thơ thứ 4 thì dễ hiểu rồi, không cần bàn thêm, nhưng ba câu vừa nêu đúng là khó xơi, nếu không giải thích cụ thể. Sở dĩ như thế, vì tác giả dùng thổ âm, thổ ngữ của người Quảng Trị. Vậy nên, tôi "phiên dịch" cho dễ hiểu là bài thơ này có nhan đề “Già rồi, đi bắt dế”:

Cỏ đẫm sương chân mình đi nhè nhẹ

Tiếng ri ri loang dưới bãi trên bờ

Tim thình thịch sao tôi hồi hộp quá

Té ra đang rình bắt lại tuổi thơ.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?