Đi tìm 10 cuốn tiểu thuyết hay nhất Việt Nam thế kỷ XX

Tôi đã có ý định lập ra một danh sách 10 cuốn tiểu thuyết sáng giá nhất của văn học Việt thế kỉ XX từ lâu rồi mà vẫn còn ngần ngại. 

Vì tôi biết rằng xếp hạng các nhà văn và các tiểu thuyết của họ là điều rất nguy hiểm. Không ai dễ yêu, dễ ghét hơn các nhà văn! Sự nguy hiểm và những lời chỉ trích chắc chắn sẽ xảy ra, tôi biết chắc chắn như thế. 

Tôi dự đoán được tất cả những tình huống ấy nhưng vẫn quyết làm vì thấy đó là điều cần thiết. Lâu nay chúng ta vẫn gặp các bảng xếp hạng các tác phẩm của các nhà văn khắp thế giới mà hình như ở nước Việt thì chưa có. Tôi lựa chọn danh sách này với tư cách độc giả, theo gu sở thích và đánh giá của tôi. Đấy là dũng cảm hay ngạo mạn tùy theo cách đánh giá của mỗi người.

Tôi chọn Khái Hưng vì ông là một trong những nhân vật tiêu biểu nhất  của Tự lực văn đoàn, cộng thêm một cái chết đầy bí ẩn. Tôi đã đọc Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, hai tác phẩm Hoàng Đạo viết cùng với Nhất Linh và Tiêu Sơn tráng sĩ của riêng ông. 

Và cuối cùng tôi quyết định chọn Tiêu Sơn tráng sĩ. Đây là một quyển tiểu thuyết lịch sử mà có hai điểm tôi rất thích, đó là chất anh hùng ca và những mối tình đẹp như mộng. 

Chất anh hùng ca của “Tiêu Sơn tráng sĩ” rất ấn tượng và hiếm có trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại. Thường là mẫu hình một nhân vật lịch sử trung tâm hoà chung vào số đông, ít xuất hiện khí khái anh hùng và cái tôi cá nhân lớn như thế.

Nhân vật anh hùng trong Tiêu Sơn tráng sĩ là những kẻ gần như bị sử chính thống không quan tâm. Phạm Thái, Nhị Nương, Trần Quang Ngọc… là những chí sĩ đã chủ trương  tôn phò nhà Lê khi Tây Sơn đã trị vì. Những nhân vật ở “cánh bên kia” của lịch sử đã được tác giả xây dựng rất điển hình, sống động và tạo một ấn tượng khó quên với người đọc.

Tôi chọn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh vì cảm quan của lần đọc đầu tôi chưa thấy cuốn tiểu thuyết tiếng Việt đương đại nào thu hút tôi đến thế. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã khiến người ta say mê cùng với những suy tưởng.

Tôi nhấn mạnh, cuốn tiểu thuyết này không chỉ gây cho người ta sự say mê, nó còn gợi cho người ta những suy nghĩ rất lâu sau đó về tình yêu, nỗi buồn, sự bế tắc, sự phản bội, hèn nhát và điều đặc biệt nhất, Bảo Ninh đã nhìn chiến tranh gần như hoàn toàn khác với những người trước đó. Có thể nói từ sau Nỗi buồn chiến tranh các nhà văn Việt mới dám viết khác đi về chiến tranh.

Thời xa vắng của Lê Lựu là cuốn tiểu thuyết tôi cân nhắc khá lâu. Lần đầu tiên tôi cũng bị Lê Lựu làm cho cuốn hút lắm nhưng lần đọc sau tôi thấy sự hấp dẫn giảm đi khá nhiều. 

Tôi đọc thêm hai cuốn Chuyện hai nhà Sóng ở đáy sông của ông để kiểm tra lại cảm giác. Hai cuốn sau tất nhiên không hay bằng cuốn trước và tất nhiên ở thời điểm ra đời, Thời xa vắng có những lợi thế về bối cảnh và cuốn sách đã để lại một dấu ấn mạnh mẽ với bạn đọc. Nó là cái gạch nối quan trọng để các nhà văn Việt Nam có bước chuyển mình kể cả về nhận thức và cách viết. Thời xa vắng xuất bản lần đầu năm 1984, ra đời trước Nỗi buồn chiến tranh 3 năm.

Trần Dần là một “ca” đặc biệt. Ai cũng biết Trần Dần nổi bật với vai trò một nhà thơ, còn với Trần Dần tiểu thuyết tôi đọc hai cuốn Những ngã tư và những cột đèn Đêm núm sen. Đêm núm sen có nhiều người ưa thích về ngôn ngữ nhưng cá nhân tôi thì không thích cuốn này, nó đuối hơn so với Những ngã tư và những cột đèn. 

Tác phẩm này cũng giống như đời Trần Dần, sau mấy chục năm im lặng, xa rời tác giả rồi khi trở về lại phải chờ đợi thêm một thời gian dài nữa mới được xuất bản. Cuốn sách này có đôi chút ngoại lệ về thời gian, sách xuất bản năm 2010 nhưng đã được tác giả hoàn thành lần cuối vào năm 1989 và tôi vẫn cho nó nằm trong thế kỉ XX.

Trong những cuốn của văn học tiền chiến, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách luôn có một địa vị quan trọng. Đây không phải cuốn tiểu thuyết đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, dù niên đại của nó rất sớm, in lần đầu thành sách năm 1925 nhưng Tố Tâm đặc biệt bởi vì nó đi tiên phong trong việc chủ trương giải phóng con người khỏi những lề luật phong kiến cũ. 

Dù chính Hoàng Ngọc Phách cũng mâu thuẫn trong bản thân mình khi ông kêu gọi người ta chính chuyên, nền nếp nhưng cuốn tiểu thuyết của ông lại có phần cổ suý cho ái tình tự do. Và người ta đã từng buộc tội rằng chính cuốn Tố Tâm đã khiến nhiều thiếu nữ vì lụy tình mà quyên sinh. Lời buộc tội thật ghê gớm nhưng cũng là sự khẳng định cho ảnh hưởng của tác phẩm này. 

Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đơn giản là một chuyện tình, một chuyện tình đẫm nước mắt nhưng ở cái thời luyến ái vẫn trong vòng của khuôn giáo của lễ giáo phong kiến ngặt nghèo thì nó đã là một tiếng nói rất ghê gớm.

Số đỏ của Vũ Trọng Phụng có một vị trí quan trọng trong văn học Việt như có lần tôi đã lưu ý. Bởi vì đa số các tiểu thuyết đương thời chìm trong những khổ não của ái tình hoặc run rẩy vì đói khát thì Số đỏ cất lên một tiếng cười vô cùng lớn. Tiếng cười ấy chế giễu những thói hư tật xấu của loài người, tiếng cười ấy nhổ một cú chua cay vào một xã hội ngày càng suy đồi. 

Điều đặc biệt của Số đỏ là nó không những đúng với thời đại của Vũ Trọng Phụng đã sống mà ngay cả những dự báo của nhà văn về một xã hội hiện tại, nơi nhiều người đặt tiền bạc và danh vọng lên trên hết, ta vẫn bắt gặp những hình ảnh của “Xuân tóc đỏ”, “cụ cố Hồng”, “bà phó Đoan”, “cô Ánh Tuyết”… trong những phiên bản hiện đại và người ta vẫn đang chờ đợi những Vũ Trọng Phụng mới!

Nguyễn Bình Phương là một trong những gương mặt đáng chú ý nhất của tiểu thuyết Việt đương đại. Cũng giống như Trần Dần, Nguyễn Bình Phương cũng có những thành tựu ở cả thơ và tiểu thuyết. 

Trong gần 10 cuốn tiểu thuyết đã xuất bản của Nguyễn Bình Phương, tôi chọn Người đi vắng là “điểm chốt” cho sự lựa chọn của mình. 

Cuốn tiểu thuyết tiêu biểu cho nghệ thuật viết của Nguyễn Bình Phương, kĩ càng, cầu kì nhưng vẫn đủ nhoè mờ ở những biên độ nhất định, thỉnh thoảng có những pha chồng lấn về Binh biến Thái Nguyên của Đội Cấn. Người đi vắng mang trong mình tư duy hiện đại về tiểu thuyết, một nỗ lực của văn học Việt tìm cách bứt ra khỏi những thứ cũ mòn, lặp lại.

Một gương mặt rất đáng kể của văn học tiền chiến là Nhượng Tống với tiểu thuyết Lan Hữu - tác phẩm cùng chủ để với Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách nhưng phát triển ở mức cao hơn. 

Cuốn tiểu thuyết này gần như bị lãng quên trong lịch sử văn học, sau một thời gian rất dài mới được in lại. nhưng dần dần Lan Hữu đã được trả về đúng vị trí của mình. 

Vào những năm 40 của thế kỉ trước, Nhượng Tống đã có những trang miêu tả tâm lí con người rất tinh tế, một điều rất hiếm thấy trong văn học Việt Nam thời kì đó. 

Nhượng Tống đã không ngần ngại miêu tả ái tình ở những pha hóc búa nhất: một mối tình gần như loạn luân nếu xét theo lễ giáo phong kiến và cuộc tình tay ba của một thiếu niên mới lớn.

Điều đặc biệt khi đọc lại Lan Hữu, tôi đã phát hiện ra Nhượng Tống là một trong số ít các nhà văn dám mỉa mai những thói hư tật xấu của người Việt, những thứ từng được coi là khuôn mẫu đạo đức xã hội rất sớm. Không trào lộng như Nguyễn Công Hoan hay “phũ” như Vũ Trọng Phụng, ở Lan Hữu, Nhượng Tống  có những cú mỉa mai rất “nhã” và kín đáo.

Chùa Đàn là cuốn sách tôi thích nhất của Nguyễn Tuân. Và lại phải nói rõ một lần nữa, sự yêu thích này là dành cho phần tác phẩm Tâm sự của nước độc được viết trước khi nhà văn họ Nguyễn bổ sung hai phần đầu và cuối, gọi là “Dựng” và “Mưỡu cuối” và đặt tên mới là Chùa Đàn. 

Và tôi cho rằng sự bổ sung của tác giả đã làm cho tác phẩm xộc xệch hẳn đi. Tâm sự nước độc là tác phẩm kết tinh những gì gọi là tinh tuý nhất của Nguyễn Tuân, một thứ văn vô cùng cầu kì, tinh xảo, hoà quyện trong một không gian rợn ngợp, u uất, buồn thảm mà thấm đẫm một vị hoài cổ và đẹp đến rợn người. 

Nguyễn Tuân đã lừng danh ở Vang bóng một thời và đến Chùa Đàn, tác giả đã tiến đến đỉnh cao nhất đời văn của mình. Nếu nói mỗi một chữ được gọi là một viên ngọc thì ở tác phẩm này Nguyễn Tuân đã làm được thế và đây xứng đáng là kiệt tác của văn học Việt.

Nhà văn tôi chọn cuối cùng là Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết Miền hoang tưởng của ông. Nguyễn Xuân Khánh từng là nhân vật sáng giá từ rất sớm với một truyện ngắn đạt giải cao trong một cuộc thi ở tạp chí Văn nghệ quân đội từ năm 1958. Nhưng từ ấy, đường văn, đường đời của ông ngày càng gian nan. 

Vào những năm ở tuổi xế chiều của đời người, Nguyễn Xuân Khánh đã cho ra ba cuốn tiểu thuyết cỡ lớn: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa. Tôi chọn Miền hoang tưởng vì đây là cuốn tiểu thuyết cách tân nhất của Nguyễn Xuân Khánh, và cũng vì như những cuốn sau của ông in sau năm 2000, không phù hợp với tiêu chí khảo sát. 

Miền hoang tưởng được hoàn thành từ năm 1975 nhưng đến tận năm 1990 mới được xuất bản lần đầu. Đến bây giờ thì người ta đã bình tĩnh nhìn nhận nó, sách được xuất bản bình thường và trả lại đúng tên tác giả tác phẩm sau một thời gian dài mai danh, ẩn tích. 

10 cuốn tiểu thuyết  xếp theo thứ tự năm xuất bản

1.     “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách, 1925

2.     “Tiêu Sơn tráng sĩ” của Khái Hưng, 1937

3.     “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, 1938

4.     “Lan Hữu” của Nhượng Tống, 1940

5.     “Chùa Đàn” của Nguyễn Tuân, 1946

6.     “Thời xa vắng” của Lê Lựu, 1984

7.     “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, 1987

8.     “Miền hoang tưởng” của Nguyễn Xuân Khánh, 1990

9.     “Người đi vắng” của Nguyễn Bình Phương, 1999

10.   “Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần, 2010.
          (Lựa chọn của nhà văn Uông Triều)

Nhà văn Uông Triều

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.