Đi tìm 10 cuốn tiểu thuyết hay nhất Việt Nam thế kỷ XX

Tôi đã có ý định lập ra một danh sách 10 cuốn tiểu thuyết sáng giá nhất của văn học Việt thế kỉ XX từ lâu rồi mà vẫn còn ngần ngại. 

Vì tôi biết rằng xếp hạng các nhà văn và các tiểu thuyết của họ là điều rất nguy hiểm. Không ai dễ yêu, dễ ghét hơn các nhà văn! Sự nguy hiểm và những lời chỉ trích chắc chắn sẽ xảy ra, tôi biết chắc chắn như thế. 

Tôi dự đoán được tất cả những tình huống ấy nhưng vẫn quyết làm vì thấy đó là điều cần thiết. Lâu nay chúng ta vẫn gặp các bảng xếp hạng các tác phẩm của các nhà văn khắp thế giới mà hình như ở nước Việt thì chưa có. Tôi lựa chọn danh sách này với tư cách độc giả, theo gu sở thích và đánh giá của tôi. Đấy là dũng cảm hay ngạo mạn tùy theo cách đánh giá của mỗi người.

Tôi chọn Khái Hưng vì ông là một trong những nhân vật tiêu biểu nhất  của Tự lực văn đoàn, cộng thêm một cái chết đầy bí ẩn. Tôi đã đọc Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, hai tác phẩm Hoàng Đạo viết cùng với Nhất Linh và Tiêu Sơn tráng sĩ của riêng ông. 

Và cuối cùng tôi quyết định chọn Tiêu Sơn tráng sĩ. Đây là một quyển tiểu thuyết lịch sử mà có hai điểm tôi rất thích, đó là chất anh hùng ca và những mối tình đẹp như mộng. 

Chất anh hùng ca của “Tiêu Sơn tráng sĩ” rất ấn tượng và hiếm có trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại. Thường là mẫu hình một nhân vật lịch sử trung tâm hoà chung vào số đông, ít xuất hiện khí khái anh hùng và cái tôi cá nhân lớn như thế.

Nhân vật anh hùng trong Tiêu Sơn tráng sĩ là những kẻ gần như bị sử chính thống không quan tâm. Phạm Thái, Nhị Nương, Trần Quang Ngọc… là những chí sĩ đã chủ trương  tôn phò nhà Lê khi Tây Sơn đã trị vì. Những nhân vật ở “cánh bên kia” của lịch sử đã được tác giả xây dựng rất điển hình, sống động và tạo một ấn tượng khó quên với người đọc.

Tôi chọn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh vì cảm quan của lần đọc đầu tôi chưa thấy cuốn tiểu thuyết tiếng Việt đương đại nào thu hút tôi đến thế. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã khiến người ta say mê cùng với những suy tưởng.

Tôi nhấn mạnh, cuốn tiểu thuyết này không chỉ gây cho người ta sự say mê, nó còn gợi cho người ta những suy nghĩ rất lâu sau đó về tình yêu, nỗi buồn, sự bế tắc, sự phản bội, hèn nhát và điều đặc biệt nhất, Bảo Ninh đã nhìn chiến tranh gần như hoàn toàn khác với những người trước đó. Có thể nói từ sau Nỗi buồn chiến tranh các nhà văn Việt mới dám viết khác đi về chiến tranh.

Thời xa vắng của Lê Lựu là cuốn tiểu thuyết tôi cân nhắc khá lâu. Lần đầu tiên tôi cũng bị Lê Lựu làm cho cuốn hút lắm nhưng lần đọc sau tôi thấy sự hấp dẫn giảm đi khá nhiều. 

Tôi đọc thêm hai cuốn Chuyện hai nhà Sóng ở đáy sông của ông để kiểm tra lại cảm giác. Hai cuốn sau tất nhiên không hay bằng cuốn trước và tất nhiên ở thời điểm ra đời, Thời xa vắng có những lợi thế về bối cảnh và cuốn sách đã để lại một dấu ấn mạnh mẽ với bạn đọc. Nó là cái gạch nối quan trọng để các nhà văn Việt Nam có bước chuyển mình kể cả về nhận thức và cách viết. Thời xa vắng xuất bản lần đầu năm 1984, ra đời trước Nỗi buồn chiến tranh 3 năm.

Trần Dần là một “ca” đặc biệt. Ai cũng biết Trần Dần nổi bật với vai trò một nhà thơ, còn với Trần Dần tiểu thuyết tôi đọc hai cuốn Những ngã tư và những cột đèn Đêm núm sen. Đêm núm sen có nhiều người ưa thích về ngôn ngữ nhưng cá nhân tôi thì không thích cuốn này, nó đuối hơn so với Những ngã tư và những cột đèn. 

Tác phẩm này cũng giống như đời Trần Dần, sau mấy chục năm im lặng, xa rời tác giả rồi khi trở về lại phải chờ đợi thêm một thời gian dài nữa mới được xuất bản. Cuốn sách này có đôi chút ngoại lệ về thời gian, sách xuất bản năm 2010 nhưng đã được tác giả hoàn thành lần cuối vào năm 1989 và tôi vẫn cho nó nằm trong thế kỉ XX.

Trong những cuốn của văn học tiền chiến, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách luôn có một địa vị quan trọng. Đây không phải cuốn tiểu thuyết đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, dù niên đại của nó rất sớm, in lần đầu thành sách năm 1925 nhưng Tố Tâm đặc biệt bởi vì nó đi tiên phong trong việc chủ trương giải phóng con người khỏi những lề luật phong kiến cũ. 

Dù chính Hoàng Ngọc Phách cũng mâu thuẫn trong bản thân mình khi ông kêu gọi người ta chính chuyên, nền nếp nhưng cuốn tiểu thuyết của ông lại có phần cổ suý cho ái tình tự do. Và người ta đã từng buộc tội rằng chính cuốn Tố Tâm đã khiến nhiều thiếu nữ vì lụy tình mà quyên sinh. Lời buộc tội thật ghê gớm nhưng cũng là sự khẳng định cho ảnh hưởng của tác phẩm này. 

Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đơn giản là một chuyện tình, một chuyện tình đẫm nước mắt nhưng ở cái thời luyến ái vẫn trong vòng của khuôn giáo của lễ giáo phong kiến ngặt nghèo thì nó đã là một tiếng nói rất ghê gớm.

Số đỏ của Vũ Trọng Phụng có một vị trí quan trọng trong văn học Việt như có lần tôi đã lưu ý. Bởi vì đa số các tiểu thuyết đương thời chìm trong những khổ não của ái tình hoặc run rẩy vì đói khát thì Số đỏ cất lên một tiếng cười vô cùng lớn. Tiếng cười ấy chế giễu những thói hư tật xấu của loài người, tiếng cười ấy nhổ một cú chua cay vào một xã hội ngày càng suy đồi. 

Điều đặc biệt của Số đỏ là nó không những đúng với thời đại của Vũ Trọng Phụng đã sống mà ngay cả những dự báo của nhà văn về một xã hội hiện tại, nơi nhiều người đặt tiền bạc và danh vọng lên trên hết, ta vẫn bắt gặp những hình ảnh của “Xuân tóc đỏ”, “cụ cố Hồng”, “bà phó Đoan”, “cô Ánh Tuyết”… trong những phiên bản hiện đại và người ta vẫn đang chờ đợi những Vũ Trọng Phụng mới!

Nguyễn Bình Phương là một trong những gương mặt đáng chú ý nhất của tiểu thuyết Việt đương đại. Cũng giống như Trần Dần, Nguyễn Bình Phương cũng có những thành tựu ở cả thơ và tiểu thuyết. 

Trong gần 10 cuốn tiểu thuyết đã xuất bản của Nguyễn Bình Phương, tôi chọn Người đi vắng là “điểm chốt” cho sự lựa chọn của mình. 

Cuốn tiểu thuyết tiêu biểu cho nghệ thuật viết của Nguyễn Bình Phương, kĩ càng, cầu kì nhưng vẫn đủ nhoè mờ ở những biên độ nhất định, thỉnh thoảng có những pha chồng lấn về Binh biến Thái Nguyên của Đội Cấn. Người đi vắng mang trong mình tư duy hiện đại về tiểu thuyết, một nỗ lực của văn học Việt tìm cách bứt ra khỏi những thứ cũ mòn, lặp lại.

Một gương mặt rất đáng kể của văn học tiền chiến là Nhượng Tống với tiểu thuyết Lan Hữu - tác phẩm cùng chủ để với Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách nhưng phát triển ở mức cao hơn. 

Cuốn tiểu thuyết này gần như bị lãng quên trong lịch sử văn học, sau một thời gian rất dài mới được in lại. nhưng dần dần Lan Hữu đã được trả về đúng vị trí của mình. 

Vào những năm 40 của thế kỉ trước, Nhượng Tống đã có những trang miêu tả tâm lí con người rất tinh tế, một điều rất hiếm thấy trong văn học Việt Nam thời kì đó. 

Nhượng Tống đã không ngần ngại miêu tả ái tình ở những pha hóc búa nhất: một mối tình gần như loạn luân nếu xét theo lễ giáo phong kiến và cuộc tình tay ba của một thiếu niên mới lớn.

Điều đặc biệt khi đọc lại Lan Hữu, tôi đã phát hiện ra Nhượng Tống là một trong số ít các nhà văn dám mỉa mai những thói hư tật xấu của người Việt, những thứ từng được coi là khuôn mẫu đạo đức xã hội rất sớm. Không trào lộng như Nguyễn Công Hoan hay “phũ” như Vũ Trọng Phụng, ở Lan Hữu, Nhượng Tống  có những cú mỉa mai rất “nhã” và kín đáo.

Chùa Đàn là cuốn sách tôi thích nhất của Nguyễn Tuân. Và lại phải nói rõ một lần nữa, sự yêu thích này là dành cho phần tác phẩm Tâm sự của nước độc được viết trước khi nhà văn họ Nguyễn bổ sung hai phần đầu và cuối, gọi là “Dựng” và “Mưỡu cuối” và đặt tên mới là Chùa Đàn. 

Và tôi cho rằng sự bổ sung của tác giả đã làm cho tác phẩm xộc xệch hẳn đi. Tâm sự nước độc là tác phẩm kết tinh những gì gọi là tinh tuý nhất của Nguyễn Tuân, một thứ văn vô cùng cầu kì, tinh xảo, hoà quyện trong một không gian rợn ngợp, u uất, buồn thảm mà thấm đẫm một vị hoài cổ và đẹp đến rợn người. 

Nguyễn Tuân đã lừng danh ở Vang bóng một thời và đến Chùa Đàn, tác giả đã tiến đến đỉnh cao nhất đời văn của mình. Nếu nói mỗi một chữ được gọi là một viên ngọc thì ở tác phẩm này Nguyễn Tuân đã làm được thế và đây xứng đáng là kiệt tác của văn học Việt.

Nhà văn tôi chọn cuối cùng là Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết Miền hoang tưởng của ông. Nguyễn Xuân Khánh từng là nhân vật sáng giá từ rất sớm với một truyện ngắn đạt giải cao trong một cuộc thi ở tạp chí Văn nghệ quân đội từ năm 1958. Nhưng từ ấy, đường văn, đường đời của ông ngày càng gian nan. 

Vào những năm ở tuổi xế chiều của đời người, Nguyễn Xuân Khánh đã cho ra ba cuốn tiểu thuyết cỡ lớn: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa. Tôi chọn Miền hoang tưởng vì đây là cuốn tiểu thuyết cách tân nhất của Nguyễn Xuân Khánh, và cũng vì như những cuốn sau của ông in sau năm 2000, không phù hợp với tiêu chí khảo sát. 

Miền hoang tưởng được hoàn thành từ năm 1975 nhưng đến tận năm 1990 mới được xuất bản lần đầu. Đến bây giờ thì người ta đã bình tĩnh nhìn nhận nó, sách được xuất bản bình thường và trả lại đúng tên tác giả tác phẩm sau một thời gian dài mai danh, ẩn tích. 

10 cuốn tiểu thuyết  xếp theo thứ tự năm xuất bản

1.     “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách, 1925

2.     “Tiêu Sơn tráng sĩ” của Khái Hưng, 1937

3.     “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, 1938

4.     “Lan Hữu” của Nhượng Tống, 1940

5.     “Chùa Đàn” của Nguyễn Tuân, 1946

6.     “Thời xa vắng” của Lê Lựu, 1984

7.     “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, 1987

8.     “Miền hoang tưởng” của Nguyễn Xuân Khánh, 1990

9.     “Người đi vắng” của Nguyễn Bình Phương, 1999

10.   “Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần, 2010.
          (Lựa chọn của nhà văn Uông Triều)

Nhà văn Uông Triều

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?