Đạo diễn Xuân Phượng với niềm riêng “Gánh gánh gồng gồng”

Đạo diễn Xuân Phượng, một nhà làm phim tài liệu chiến trường thuộc hàng trưởng lão của giới truyền hình vừa cho ra mắt bạn đọc hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” ở tuổi 91. Câu chuyện cuộc đời của đạo diễn Xuân Phượng thực sự khiến nhiều người phải kinh ngạc, nhất là cách bà đối diện với gian nan và vượt qua thử thách bằng sự hòa nhã và nhân ái!

Đạo diễn Xuân Phượng tên thật Nguyễn Thị Xuân Phượng, sinh năm 1929 tại Huế. Xuất thân trong một gia đình quý tộc phong kiến, đạo diễn Xuân Phượng đi theo kháng chiến từ năm 16 tuổi. Đạo diễn Xuân Phượng ghi tên mình vào lịch sử phim tài liệu Việt Nam, với các tác phẩm “Việt Nam và chiếc xe đạp” (1974), “Khi tiếng súng vừa tắt” (1975), “Khi những nụ cười trở lại” (1976), “Hai tiếng quê hương” (1978), “Tôi viết bài ca hồi sinh” (1979)…

Tuy nhiên, những bộ phim tài liệu dù lừng lẫy đến đâu cũng không thể phản ánh hết cuộc đời nhiều thăng trầm của đạo diễn Xuân Phượng. Từng được đào tạo ngành y, rồi làm công nhân ở xưởng chế tạo chất nổ, rồi làm thông dịch viên ngoại giao, rồi làm truyền hình… Thậm chí, có giai đoạn đạo diễn Xuân Phượng còn đảm nhận vị trí Trưởng phòng khám Nhi quận Ba Đình - Hà Nội, mà một bệnh nhân đến bây giờ vẫn còn nhớ ơn bà là nhà văn Bảo Ninh.

Đạo diễn Xuân Phượng ở tuổi 91.
Đạo diễn Xuân Phượng ở tuổi 91.

Đạo diễn Xuân Phượng nói về nguyên nhân viết hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” rất đơn giản: “Tôi muốn giải thích với họ hàng vì sao tôi dấn thân vào cuộc cách mạng để gia đình ly tán, và muốn giúp thế hệ trẻ hôm nay hiểu thêm về cuộc chiến tranh đầy bi hùng của Việt Nam ở thế kỷ 20”.

Hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” thực chất được đạo diễn Xuân Phượng viết lại từ cuốn hồi ký “Áo dài” đã xuất bản bằng tiếng Pháp năm 2001 và sau đó được in lại tiếng Anh ở nhiều quốc gia. 

Nhà văn Robert Macneil nhận xét về cuốn sách “Áo dài” bằng sự trân trọng: “Đây là một trong những hồi ký tuyệt vời nhất mà tôi từng đọc. Tác giả và những người xung quanh giống như những người anh hùng. Sự nguy hiểm và thiếu thốn mà họ phải chịu đựng trên con đường giải phóng dân tộc thật đáng kinh ngạc. Sự bao dung và phóng khoáng của người phụ nữ ấy đã vượt qua mọi sóng gió và truyền cảm hứng mãnh liệt cho người đọc. Đây là bài học sâu sắc trả lời câu hỏi cho những người Mỹ vẫn đang bối rối rằng, vì sao một dân tộc nghèo và nhỏ bé như vậy lại có thể chiến thắng”.

Khi nhận được đơn đặt hàng của một nhà xuất bản Plon uy tín của Pháp, đạo diễn Xuân Phượng đã mất 7 tháng để viết xong hồi ký “Áo dài”. Trong đợt dịch Covid-19 vừa qua, đạo diễn Xuân Phượng đã bỏ ra 3 tháng để viết lại “Áo dài” bằng tiếng Việt, và Nhà xuất bản Văn Hóa - Văn Nghệ ấn hành với tên gọi “Gánh gánh gồng gồng”. Đạo diễn Xuân Phượng thổ lộ sự chuyển tiếp từ “Áo dài” sang “Gánh gánh gồng gồng” bằng niềm riêng chân thành: “Đã 19 năm qua, với bao cuộc đổi thay. Đã đến lúc tôi viết lại đời mình bằng tiếng Việt như một món quà tinh thần gửi đến những người thân mến quanh tôi”.

Cuộc đời của đạo diễn Xuân Phượng là một pho lịch sử thu nhỏ của Việt Nam thế kỷ 20. Bà đã chứng kiến vua Bảo Đại đại diện vương triều cuối cùng trao ấn kiếm cho nhà sử học Trần Huy Liệu đại diện chính quyền cách mạng tại cửa Ngọ Môn vào tháng 8-1945. Đồng thời, bà đã chứng kiến ở Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, giới chóp bu chính quyền Việt Nam cộng hòa lầm lũi rời khỏi quyền lực và những chiến sĩ giải phóng lau chùi bùn đất trên chiếc xe tăng vừa trải qua đợt hành quân thần tốc.

Vậy, ngày giải phóng Thủ đô 10-10-1954 đối với đạo diễn Xuân Phượng thì sao? Đó là một ký ức cực kỳ khó quên. Khi quân chủ lực đã về tiếp quản Hà Nội thì bà ôm hai đứa con băng rừng để trở lại đô thành. 

Ngày ấy, xứ Tuyên Quang hoang vắng và còn nhiều cọp, nên bà phải di chuyển từng chặng. Bà cõng đứa con nọ đến một quán nhỏ để gửi rồi chạy ngược để cõng tiếp đứa con kia. Cứ thế, khi đưa được hai đứa con từ căn cứ chiến khu ra được thị trấn thì bà ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, bà thấy hai người phụ nữ đứng trước mặt mình với ánh mắt thương hại: “Cô ăn mày này tội nghiệp quá!”. Hai người phụ nữ tốt bụng đã cho mẹ con bà ăn uống và cho đi nhờ xe hơi về Hà Nội, để mẹ con bà được sum họp cùng chồng trong căn hộ tập thể số 1 Lê Phụng Hiểu.

Hồi ký “Gánh gánh gồng gồng”.
Hồi ký “Gánh gánh gồng gồng”.

Hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” cho thấy đạo diễn Xuân Phượng từ một người con gái bình thường đã có những trải nghiệm phi thường. Bà đã sinh đứa con đầu lòng trên một con đò trôi dạt giữa đêm đông lạnh lẽo trên sông Lô cuối năm 1949, và bà đã đỡ đẻ cho một đứa trẻ trong địa đạo Vĩnh Linh vào năm 1967. 

Tiếng khóc của đứa trẻ mở mắt chào đời, tiếng Hồi ký “Gánh gánh gồng gồng”.
của người mẹ sinh khó và tiếng khóc của người cha hạnh phúc trong khói lửa ngột ngạt chiến tranh là một kỷ niệm khắc cốt ghi tâm khi nữ phiên dịch Xuân Phượng theo phụ việc cho đạo diễn Hà Lan- Joris Ivens làm phim tài liệu tại Vĩnh Linh. Thời điểm ấy, cũng khởi sự một đạo diễn Xuân Phượng nức danh trong giới truyền hình Việt Nam.

Đạo diễn Xuân Phượng cũng có vinh dự nhiều lần được gặp Bác Hồ, mà bà kể lại với rất nhiều cảm xúc. Khi ở chiến khu Việt Bắc mùa đông, bà và nhiều đồng đội nữ thường tranh thủ ngủ muộn quá giờ kẻng báo thức. Một lần Bác Hồ đi thị sát đời sống cán bộ vào sáng sớm, bà vội vàng vùng dậy réo gọi chị em: “Bác Hồ đến rồi, tập hợp nhanh lên”. Thế nhưng, Bác Hồ đã đứng sau lưng, cất giọng: “Trễ rồi, các cô gái ơi!”.

Khi hòa bình lập lại trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đạo diễn Xuân Phượng cũng nhiều lần dẫn các đoàn làm phim nước ngoài đến quay phim về hoạt động của Bác Hồ. 

Ngày đoàn làm phim “Chân dung lãnh tụ Hồ Chí Minh” của Pháp tác nghiệp, thì Bác Hồ đang tiếp các dũng sĩ diệt Mỹ ở miền Nam ra thăm. Bác Hồ đội một cái mũ, ghi hình sẽ không đẹp. Bà Xuân Phượng đề nghị ông Vũ Kỳ là thư ký của Bác Hồ giúp đỡ, nhưng ông Vũ Kỳ không dám thực hiện. 

Chẳng còn cách nào khác, bà Xuân Phượng phải đến bên cạnh Bác Hồ để thưa chuyện: “Xin Bác bỏ cái mũ ra để quay phim!”. Bác Hồ hỏi luôn: “Cái mũ của Bác không đẹp à?”. Bà Xuân Phượng nhanh trí, đáp: “Thưa Bác, cái mũ của Bác rất đẹp, nhưng tóc của Bác còn đẹp hơn!”. Bác Hồ bật cười: “Cô này khá lắm!”. Và lấy cái mũ của mình đội sang đầu bà Xuân Phượng!

Khi từ Huế ra chiến khu Việt Bắc, đạo diễn Xuân Phượng kết hôn với chàng bộ đội pháo binh Tôn Thất Hoàng. Họ có với nhau cả thảy ba người con trai Nguyễn Phước, Nguyễn Phương và Nguyễn Phong. Từ khi nhận sổ hưu ở Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh, đạo diễn Xuân Phượng trở thành một nhà sưu tập tranh tầm cỡ. 

Không chỉ sở hữu phòng tranh Lotus, đạo diễn Xuân Phượng còn đưa nhiều họa sĩ trẻ ra nước ngoài triển lãm và tham quan các bảo tàng để mở rộng hiểu biết mỹ thuật quốc tế. Với những đóng góp cho quá trình giao lưu văn hóa Việt- Pháp, đạo diễn Xuân Phượng được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương “Bắc đẩu bội tinh” vào năm 2011.

Hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” của đạo diễn Xuân Phượng thực sự mang đến cho độc giả nguồn tư liệu quý giá. Phải thừa nhận, hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” được viết bằng một văn phong giản dị và lưu loát, rất đáng kính nể ở một phụ nữ tuổi 91. 

Với hồi ký “Gánh gánh gồng gồng”, đạo diễn Xuân Phượng chứng minh rằng, con người không dễ chọn lựa số phận mình trong những khúc quanh thời cuộc, quan trọng nhất là đón nhận một cách lạc quan và tin yêu. 

Đạo diễn Xuân Phượng hé lộ bí quyết “gánh gánh gồng gồng” khá nhẹ nhàng: “Có một điều nói thì dễ, làm thì khó. Đó là giữ cho mình một tấm lòng bao dung với mọi người ở mọi lúc và mọi nơi”. l Đạo diễn Xuân Phượng ở tuổi 91.

Tâm Huyền

Các tin khác

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.