Cuộc hội tụ của ba di sản lớn

Ấn bản “Kim Vân Kiều” của Công ty Nhã Nam lần đầu tiên đồng thời có sự kết hợp “Kim Vân Kiều” do học giả Nguyễn Văn Vĩnh dịch và chú giải cẩn thận ra quốc ngữ, kèm minh họa nhân vật theo bản in năm 1923, cùng bộ tranh Kiều chưa từng công bố của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm.

Có thể nói đây là sự hội tụ hiếm có của ba di sản lớn: di sản văn chương của Nguyễn Du, di sản quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh và di sản hội họa của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, cho thấy sự nối dài đời sống của những giá trị văn hóa.

Di sản “Truyện Kiều” và chữ quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh

Truyện Kiều có một lịch sử in ấn, phiên âm, dịch thuật, chú thích, chú giải cũng như tiếp nhận, nghiên cứu, đánh giá vừa phong phú, phức tạp vừa nhiều thành tựu. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu về Truyện Kiều, đến nay chúng ta đã sưu tập được 63 văn bản Truyện Kiều cổ khác nhau.

Giao_su_Tran_Dinh_Su_Ben_trai_va-1769495841249.JPG
Giáo sư Trần Đình Sử và họa sĩ Lương Xuân Đoàn chia sẻ về Kim Vân Kiều của học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Theo giáo sư Trần Đình Sử, bản “Kim Vân Kiều” của học giả Nguyễn Văn Vĩnh giúp bạn đọc được tiếp cận với bản Kiều quốc ngữ sớm nhất miền Bắc Việt Nam đầu thế kỷ 20 mà ông đã phiên âm và biên soạn trong 17 năm trời. Tuy có một số chữ lạ, khác với văn bản chúng ta quen thuộc nhưng nhiều trong số đó đã được sửa lại trong văn bản “Truyện Kiều” in năm 1933 và 1942. Giáo sư Trần Đình Sử cũng cho biết, Nguyễn Văn Vĩnh phiên âm Kiều từ rất sớm, từ năm 1906; kéo dài hàng chục năm, với việc sửa chữa liên tục để “ngày càng chính xác”. Và việc tiếp cận với “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Văn Vĩnh giúp bạn đọc hôm nay hiểu rõ hơn tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, cũng như vai trò của các trí thức buổi giao thời trong việc phổ biến chữ quốc ngữ, kiến tạo tinh thần yêu chuộng vốn cổ văn học, ngôn ngữ nước nhà. 

Vì sao học giả Nguyễn Văn Vĩnh lại dành nhiều thời gian và tâm huyết của mình để phiên âm, chú giải “Truyện Kiều” sang chữ quốc ngữ? Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam bước vào một giai đoạn chuyển mình, trong đó sự thay đổi về chữ viết là một trong những vấn đề mang tính nền tảng. Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những trí thức Việt Nam sớm tiếp thu tư duy duy lý và tinh thần khai sáng phương Tây. Ông hiểu, muốn thuyết phục xã hội từ bỏ sự độc tôn của Hán học, không thể chỉ bằng lý luận, hay sự áp đặt. Và ông đã chọn “Truyện Kiều” bởi đó là tác phẩm có uy tín gần như tuyệt đối trong đời sống tinh thần người Việt, hay nói cách khác, người Việt có một “ngôn ngữ chung” là “Truyện Kiều”. Lựa chọn này của ông không chỉ mang ý nghĩa văn học mà còn là một chiến lược văn hóa có tính khai sáng rõ rệt.

Trong lời tựa “Kim Vân Kiều” bản tái bản năm 1915, Nguyễn Văn Vĩnh nhấn mạnh: “Nay chúng tôi dịch truyện này ra chữ quốc ngữ, có ý tra cứu các bản từ xưa đến giờ, để dịch cho đúng mà lưu lại một cái nền văn - chương nước Nam. Các điển tích cùng các câu khó chúng tôi đã chua ra, để ai ai cũng hiểu những câu sâu sắc trong Truyện Kiều; để mà biết thực giá một cái hương-hỏa quý của người đời trước để lại cho; để mà ngâm câu truyện biết nghĩa lý, thì lòng người mới biết động”. 

Ấn bản “Kim Vân Kiều” năm 2025 của Nhã Nam được tái bản dựa trên bản “Kim Vân Kiều” do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, chú dẫn các điển tích ra chữ quốc ngữ, in lần thứ 7 năm 1923 của Hiệu Ích Ký (Hà Nội). Bản dịch và chú giải “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Văn Vĩnh, qua nhiều năm, được in có lẽ đến cả vạn bản, được yêu thích bởi lối phiên âm sáng rõ, cùng hệ thống chú giải uyên bác nhưng tiết chế, giúp độc giả quốc ngữ cảm nhận đúng tài năng, nghệ thuật thơ của Nguyễn Du. Có thể thấy mức độ phổ biến của nó cũng không hề thua kém bản dịch và chú giải Kiều được bạn đọc ngày nay biết đến nhiều hơn, là bản “Truyện Thúy Kiều” của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim.

Theo giáo sư Trần Đình Sử, điều thú vị là mặc dù được in nhiều lần nhưng rất khó để có một bản Kiều duy nhất mang dấu ấn Nguyễn Văn Vĩnh. Đó là vì trong quá trình biên soạn, phiên âm, đã có nhiều bản Kiều nôm và quốc ngữ khác xuất hiện. Ông đã tham khảo, sửa đổi, bổ sung trong những lần xuất bản khác nhau. “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Văn Vĩnh vì thế, trở thành một “văn bản sống”. Chẳng hạn, trong bản in năm 1913, câu “Chữ tài chữ mệnh khéo là cợt nhau” thì trong bản in năm 1923, ông đã sửa chữ “cợt nhau” thành “ghét nhau”; hay ở bản 1923, ông để “Bóng chiều đã ngả dặm hòe còn xa” và chú “dặm hòe” là đường trồng cây hòe ở hai bên; đến bản 1933, ông sửa thành “dặm về còn xa”, cách nói phổ thông hơn.

Điều đặc biệt nữa là, trước khi dịch “Truyện Kiều” sang chữ quốc ngữ, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch kiệt tác này sang tiếng Pháp. Bản tiếng Pháp của ông trở thành cơ sở cho các dịch giả dịch Kiều sang tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Trung và có thể là cơ sở để dịch sang nhiều thứ tiếng khác nữa. Với bản dịch tiếng Pháp, ông đóng vai trò quan trọng trong việc quốc tế hóa “Truyện Kiều”.

Di sản tranh Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm

Lần này, “Kim Vân Kiều” của học giả Nguyễn Văn Vĩnh trở lại với một dung mạo mới, trong cuộc đối thoại “độc nhất vô nhị” với minh họa Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm.

An_ban_moi_Kim_Van_Kieu_cua_Nha_-1769495835888.jpg
Ấn bản mới “Kim Vân Kiều” của Nhã Nam.

26 minh họa chưa từng công bố của danh họa đã vẽ nên không gian đối thoại giữa truyền thống nghệ thuật, tinh thần hiện đại và ngôn ngữ tạo hình đậm cá tính cá nhân, từ đó mang đến cho công chúng cách “đọc Kiều bằng hình ảnh” đầy sáng tạo và độc đáo. Các tranh Kiều đều vẽ trên giấy dó, bằng chất liệu than chì, bột màu hoặc sơn dầu. Theo họa sĩ Lương Xuân Đoàn, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, khi họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm còn sống, ông đã nhiều lần đến thăm, trò chuyện nhưng chưa bao giờ được ông tiết lộ về bộ tranh Kiều. Có thể nói đây là một bất ngờ vô cùng thú vị của hội họa Việt Nam đương đại.

“Mặc dù họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm rất khiêm nhường ghi vào từng tác phẩm là “minh họa Nguyễn Tư Nghiêm” nhưng chúng tôi coi đây là bộ tranh Kiều độc đáo duy nhất và lần đầu tiên thế hệ con cháu được cảm nhận một cách trọn vẹn. Ông vẽ trong sự thương cảm với  nàng Kiều, bằng cốt nét, tâm hồn, văn hóa Việt chứ không phải bằng cốt nét Trung Quốc như nhiều tiền bối. Xem từng tranh Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm, người ta như nghe được cả tiếng thổn thức của cây cỏ, thiên nhiên nước Việt và đương nhiên là tâm hồn Việt. Đây hẳn là một bộ tranh Kiều ông vẽ trong 6 năm. Đúng thời điểm đất nước chiến tranh nhưng tâm ông vẫn lặng, sạch, hồn cốt Việt vẫn thấm đẫm”, họa sĩ Lương Xuân Đoàn chia sẻ.

Ông Đoàn cũng lý giải cho mạch nguồn văn hóa Việt trong tâm hồn danh họa bởi từ nhỏ, Nguyễn Tư Nghiêm được nghe mẹ đọc Kiều, thấm nhuần từng câu và biết cảm thương cho số phận của đàn bà Việt. Thời bé, các nét vẽ nguệch ngoạc của danh họa trên nền đất quê nhà dường như được đánh thức từ đại thi hào Nguyễn Du. Đó là tiền đề để ông tạo nên bộ phụ bản Kiều vào thập niên 1960.  Thế nên Nguyễn Tư Nghiêm không đi theo lối minh họa trực tiếp cốt truyện mà khai thác chiều sâu tâm lý, tính cách và cảm xúc của mỗi nhân vật, tình huống, sự việc trong“Truyện Kiều”.

Vì vậy, bộ tranh Kiều còn đặc biệt ở chỗ nó không lệ thuộc vào văn bản văn học. Người xem có thể không thuộc “Truyện Kiều”, thậm chí không nắm rõ cốt truyện, nhưng vẫn cảm nhận được chiều sâu bi kịch và vẻ đẹp văn hóa toát ra từ tranh. Điều này cho thấy tác phẩm hội họa đã đạt đến độ độc lập thẩm mỹ, đứng vững bằng chính ngôn ngữ của mình, chứ không dựa vào hào quang của văn bản gốc.

Họa sĩ Thu Giang, vợ của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm chia sẻ rằng, trước khi về làm vợ ông, thỉnh thoảng bà theo cha, nhà văn Nguyễn Tuân sang hầu chuyện và được nghe kể về bộ tranh Kiều. Sau này, nhiều lần ông mang ra để vẽ lại, nhưng vẽ xong ông lại xé đi. “Đó là giai đoạn ông chịu nhiều đau khổ và đơn độc nhất”. Bà nói. Ông “giữ khư khư” bộ tranh Kiều và dặn bà, phải tìm người thật tin tưởng mới được công bố. Hiện bà mới chỉ giới thiệu 26 bức trong 36 tác phẩm Kiều của danh họa.

Bộ tranh Kiều của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm tiếp tục kéo dài truyền thống vẽ Kiều khởi từ đầu thế kỷ XX với sự tham gia của nhiều danh họa như Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân, Lê Thị Lựu, Lê Phổ, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Đỗ Cung, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm, Mạnh Quỳnh… và ngay hôm nay, dòng chảy ấy vẫn tiếp tục khi nhiều họa sĩ đương đại cảm tác từ “Truyện Kiều” như họa sĩ Đặng Xuân Hòa, họa sĩ Đinh Quân, họa sĩ Đặng Tiến...

Có thể nói, cuộc hội tụ của 3 di sản Truyện Kiều - chữ quốc ngữ Nguyễn Văn Vĩnh và tranh Kiều Nguyễn Tư Nghiêm một lần nữa khẳng định giá trị của những di sản mà cha ông đã kiến tạo, cần được gìn giữ, trao truyền. 

Việt Linh

Các tin khác

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?

Rừng hoa xuân tuyết bay

Rừng hoa xuân tuyết bay

Nếu tính chặng đường đi tiếp của chúng tôi từ phường Tuyên Quang tới hồ thủy điện Na Hang chừng 100 cây số. Ấy là chưa nói, đoàn còn lên vùng núi cao Hồng Thái cũng phải tròm trèm 50 cây số nữa. Nghe vậy mọi người lắc đầu ngao ngán. Nhưng ai đó chợt kể, ở một bản Dao trên núi có tục gái mua trai về làm chồng. Rồi họ còn tổ chức trò chơi dù bay trên mây nữa chứ. Mọi người phấn chấn hẳn. Lập tức chuyến xe lại rùng rùng hú còi lên đường.