Cuộc hội tụ của ba di sản lớn

Ấn bản “Kim Vân Kiều” của Công ty Nhã Nam lần đầu tiên đồng thời có sự kết hợp “Kim Vân Kiều” do học giả Nguyễn Văn Vĩnh dịch và chú giải cẩn thận ra quốc ngữ, kèm minh họa nhân vật theo bản in năm 1923, cùng bộ tranh Kiều chưa từng công bố của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm.

Có thể nói đây là sự hội tụ hiếm có của ba di sản lớn: di sản văn chương của Nguyễn Du, di sản quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh và di sản hội họa của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, cho thấy sự nối dài đời sống của những giá trị văn hóa.

Di sản “Truyện Kiều” và chữ quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh

Truyện Kiều có một lịch sử in ấn, phiên âm, dịch thuật, chú thích, chú giải cũng như tiếp nhận, nghiên cứu, đánh giá vừa phong phú, phức tạp vừa nhiều thành tựu. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu về Truyện Kiều, đến nay chúng ta đã sưu tập được 63 văn bản Truyện Kiều cổ khác nhau.

Giao_su_Tran_Dinh_Su_Ben_trai_va-1769495841249.JPG
Giáo sư Trần Đình Sử và họa sĩ Lương Xuân Đoàn chia sẻ về Kim Vân Kiều của học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Theo giáo sư Trần Đình Sử, bản “Kim Vân Kiều” của học giả Nguyễn Văn Vĩnh giúp bạn đọc được tiếp cận với bản Kiều quốc ngữ sớm nhất miền Bắc Việt Nam đầu thế kỷ 20 mà ông đã phiên âm và biên soạn trong 17 năm trời. Tuy có một số chữ lạ, khác với văn bản chúng ta quen thuộc nhưng nhiều trong số đó đã được sửa lại trong văn bản “Truyện Kiều” in năm 1933 và 1942. Giáo sư Trần Đình Sử cũng cho biết, Nguyễn Văn Vĩnh phiên âm Kiều từ rất sớm, từ năm 1906; kéo dài hàng chục năm, với việc sửa chữa liên tục để “ngày càng chính xác”. Và việc tiếp cận với “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Văn Vĩnh giúp bạn đọc hôm nay hiểu rõ hơn tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, cũng như vai trò của các trí thức buổi giao thời trong việc phổ biến chữ quốc ngữ, kiến tạo tinh thần yêu chuộng vốn cổ văn học, ngôn ngữ nước nhà. 

Vì sao học giả Nguyễn Văn Vĩnh lại dành nhiều thời gian và tâm huyết của mình để phiên âm, chú giải “Truyện Kiều” sang chữ quốc ngữ? Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam bước vào một giai đoạn chuyển mình, trong đó sự thay đổi về chữ viết là một trong những vấn đề mang tính nền tảng. Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những trí thức Việt Nam sớm tiếp thu tư duy duy lý và tinh thần khai sáng phương Tây. Ông hiểu, muốn thuyết phục xã hội từ bỏ sự độc tôn của Hán học, không thể chỉ bằng lý luận, hay sự áp đặt. Và ông đã chọn “Truyện Kiều” bởi đó là tác phẩm có uy tín gần như tuyệt đối trong đời sống tinh thần người Việt, hay nói cách khác, người Việt có một “ngôn ngữ chung” là “Truyện Kiều”. Lựa chọn này của ông không chỉ mang ý nghĩa văn học mà còn là một chiến lược văn hóa có tính khai sáng rõ rệt.

Trong lời tựa “Kim Vân Kiều” bản tái bản năm 1915, Nguyễn Văn Vĩnh nhấn mạnh: “Nay chúng tôi dịch truyện này ra chữ quốc ngữ, có ý tra cứu các bản từ xưa đến giờ, để dịch cho đúng mà lưu lại một cái nền văn - chương nước Nam. Các điển tích cùng các câu khó chúng tôi đã chua ra, để ai ai cũng hiểu những câu sâu sắc trong Truyện Kiều; để mà biết thực giá một cái hương-hỏa quý của người đời trước để lại cho; để mà ngâm câu truyện biết nghĩa lý, thì lòng người mới biết động”. 

Ấn bản “Kim Vân Kiều” năm 2025 của Nhã Nam được tái bản dựa trên bản “Kim Vân Kiều” do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, chú dẫn các điển tích ra chữ quốc ngữ, in lần thứ 7 năm 1923 của Hiệu Ích Ký (Hà Nội). Bản dịch và chú giải “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Văn Vĩnh, qua nhiều năm, được in có lẽ đến cả vạn bản, được yêu thích bởi lối phiên âm sáng rõ, cùng hệ thống chú giải uyên bác nhưng tiết chế, giúp độc giả quốc ngữ cảm nhận đúng tài năng, nghệ thuật thơ của Nguyễn Du. Có thể thấy mức độ phổ biến của nó cũng không hề thua kém bản dịch và chú giải Kiều được bạn đọc ngày nay biết đến nhiều hơn, là bản “Truyện Thúy Kiều” của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim.

Theo giáo sư Trần Đình Sử, điều thú vị là mặc dù được in nhiều lần nhưng rất khó để có một bản Kiều duy nhất mang dấu ấn Nguyễn Văn Vĩnh. Đó là vì trong quá trình biên soạn, phiên âm, đã có nhiều bản Kiều nôm và quốc ngữ khác xuất hiện. Ông đã tham khảo, sửa đổi, bổ sung trong những lần xuất bản khác nhau. “Kim Vân Kiều” của Nguyễn Văn Vĩnh vì thế, trở thành một “văn bản sống”. Chẳng hạn, trong bản in năm 1913, câu “Chữ tài chữ mệnh khéo là cợt nhau” thì trong bản in năm 1923, ông đã sửa chữ “cợt nhau” thành “ghét nhau”; hay ở bản 1923, ông để “Bóng chiều đã ngả dặm hòe còn xa” và chú “dặm hòe” là đường trồng cây hòe ở hai bên; đến bản 1933, ông sửa thành “dặm về còn xa”, cách nói phổ thông hơn.

Điều đặc biệt nữa là, trước khi dịch “Truyện Kiều” sang chữ quốc ngữ, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch kiệt tác này sang tiếng Pháp. Bản tiếng Pháp của ông trở thành cơ sở cho các dịch giả dịch Kiều sang tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Trung và có thể là cơ sở để dịch sang nhiều thứ tiếng khác nữa. Với bản dịch tiếng Pháp, ông đóng vai trò quan trọng trong việc quốc tế hóa “Truyện Kiều”.

Di sản tranh Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm

Lần này, “Kim Vân Kiều” của học giả Nguyễn Văn Vĩnh trở lại với một dung mạo mới, trong cuộc đối thoại “độc nhất vô nhị” với minh họa Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm.

An_ban_moi_Kim_Van_Kieu_cua_Nha_-1769495835888.jpg
Ấn bản mới “Kim Vân Kiều” của Nhã Nam.

26 minh họa chưa từng công bố của danh họa đã vẽ nên không gian đối thoại giữa truyền thống nghệ thuật, tinh thần hiện đại và ngôn ngữ tạo hình đậm cá tính cá nhân, từ đó mang đến cho công chúng cách “đọc Kiều bằng hình ảnh” đầy sáng tạo và độc đáo. Các tranh Kiều đều vẽ trên giấy dó, bằng chất liệu than chì, bột màu hoặc sơn dầu. Theo họa sĩ Lương Xuân Đoàn, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, khi họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm còn sống, ông đã nhiều lần đến thăm, trò chuyện nhưng chưa bao giờ được ông tiết lộ về bộ tranh Kiều. Có thể nói đây là một bất ngờ vô cùng thú vị của hội họa Việt Nam đương đại.

“Mặc dù họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm rất khiêm nhường ghi vào từng tác phẩm là “minh họa Nguyễn Tư Nghiêm” nhưng chúng tôi coi đây là bộ tranh Kiều độc đáo duy nhất và lần đầu tiên thế hệ con cháu được cảm nhận một cách trọn vẹn. Ông vẽ trong sự thương cảm với  nàng Kiều, bằng cốt nét, tâm hồn, văn hóa Việt chứ không phải bằng cốt nét Trung Quốc như nhiều tiền bối. Xem từng tranh Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm, người ta như nghe được cả tiếng thổn thức của cây cỏ, thiên nhiên nước Việt và đương nhiên là tâm hồn Việt. Đây hẳn là một bộ tranh Kiều ông vẽ trong 6 năm. Đúng thời điểm đất nước chiến tranh nhưng tâm ông vẫn lặng, sạch, hồn cốt Việt vẫn thấm đẫm”, họa sĩ Lương Xuân Đoàn chia sẻ.

Ông Đoàn cũng lý giải cho mạch nguồn văn hóa Việt trong tâm hồn danh họa bởi từ nhỏ, Nguyễn Tư Nghiêm được nghe mẹ đọc Kiều, thấm nhuần từng câu và biết cảm thương cho số phận của đàn bà Việt. Thời bé, các nét vẽ nguệch ngoạc của danh họa trên nền đất quê nhà dường như được đánh thức từ đại thi hào Nguyễn Du. Đó là tiền đề để ông tạo nên bộ phụ bản Kiều vào thập niên 1960.  Thế nên Nguyễn Tư Nghiêm không đi theo lối minh họa trực tiếp cốt truyện mà khai thác chiều sâu tâm lý, tính cách và cảm xúc của mỗi nhân vật, tình huống, sự việc trong“Truyện Kiều”.

Vì vậy, bộ tranh Kiều còn đặc biệt ở chỗ nó không lệ thuộc vào văn bản văn học. Người xem có thể không thuộc “Truyện Kiều”, thậm chí không nắm rõ cốt truyện, nhưng vẫn cảm nhận được chiều sâu bi kịch và vẻ đẹp văn hóa toát ra từ tranh. Điều này cho thấy tác phẩm hội họa đã đạt đến độ độc lập thẩm mỹ, đứng vững bằng chính ngôn ngữ của mình, chứ không dựa vào hào quang của văn bản gốc.

Họa sĩ Thu Giang, vợ của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm chia sẻ rằng, trước khi về làm vợ ông, thỉnh thoảng bà theo cha, nhà văn Nguyễn Tuân sang hầu chuyện và được nghe kể về bộ tranh Kiều. Sau này, nhiều lần ông mang ra để vẽ lại, nhưng vẽ xong ông lại xé đi. “Đó là giai đoạn ông chịu nhiều đau khổ và đơn độc nhất”. Bà nói. Ông “giữ khư khư” bộ tranh Kiều và dặn bà, phải tìm người thật tin tưởng mới được công bố. Hiện bà mới chỉ giới thiệu 26 bức trong 36 tác phẩm Kiều của danh họa.

Bộ tranh Kiều của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm tiếp tục kéo dài truyền thống vẽ Kiều khởi từ đầu thế kỷ XX với sự tham gia của nhiều danh họa như Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân, Lê Thị Lựu, Lê Phổ, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Đỗ Cung, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm, Mạnh Quỳnh… và ngay hôm nay, dòng chảy ấy vẫn tiếp tục khi nhiều họa sĩ đương đại cảm tác từ “Truyện Kiều” như họa sĩ Đặng Xuân Hòa, họa sĩ Đinh Quân, họa sĩ Đặng Tiến...

Có thể nói, cuộc hội tụ của 3 di sản Truyện Kiều - chữ quốc ngữ Nguyễn Văn Vĩnh và tranh Kiều Nguyễn Tư Nghiêm một lần nữa khẳng định giá trị của những di sản mà cha ông đã kiến tạo, cần được gìn giữ, trao truyền. 

Việt Linh

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.