Con người cô đơn, khoảng lặng của điện ảnh Việt đương đại

Giờ đây, khi chủ đề cô đơn và con người cô đơn đã không đến mức quá xa lạ trong văn chương nghệ thuật Việt Nam thì chúng ta có thể bắt đầu diễn giải, cắt nghĩa nó: tại sao và bằng cách nào mà cô đơn, điều từng bị coi là một cấm kị, lại trở lại với tần số khá dày, với nhiều chiều kích đến vậy?

Chúng ta dự cảm được điều gì từ kiểu nhân vật ấy, nhất là khi thế giới kết nối tưởng đã phủ kín mọi ngóc ngách nhưng chưa bao giờ thực sự xóa hết những hiện hữu đơn độc đến gần như bị bỏ qua trong đời sống.

1. Có lẽ không sợ sai khi khẳng định rằng trong điện ảnh cách mạng trước đây, kiểu nhân vật cô đơn không hề xuất hiện. Trạng thái cô đơn, hiểu theo nghĩa cơ bản nhất, chỉ xảy ra khi con người cá nhân nhìn sâu vào nội giới mình, nhận ra những phức tạp và khó cắt nghĩa trong con người mình.

Nhưng ở văn học nghệ thuật cách mạng, cá nhân phải hướng về số đông, “ngã vật trong dòng người cuộn thác” thì chuỗi cảm giác cô đơn, buồn bã hay lạc lõng đều không được cất tiếng. Phổ biến trong điện ảnh bấy giờ là mô hình nhân vật cặp đôi (vợ chồng, cha con, chị em), tiêu biểu như Hoài và Vận (“Chung một dòng sông”, 1959), cha con bé Nga (“Con chim vành khuyên”, 1962), chị em Phương (“Nổi gió” 1966), vợ chồng anh Lực (“Truyện vợ chồng anh Lực”, 1971), vợ chồng Dịu (“Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”, 1972), vợ chồng Ba Đô (“Cánh đồng hoang”, 1979),…

Nhân vật cặp đôi tuy diễn tả sâu sắc quá trình giải quyết mối quan hệ giữa riêng chung, đồng thời, cũng là hiện vẻ đẹp lí tưởng của chủ nghĩa anh hùng thời kháng chiến nhưng lại dễ dàng nắm bắt vì đều tuân theo mẫu hồ sơ tính cách chung.

Xu hướng phá vỡ kiểu nhân vật đơn giản về tính cách này chỉ thực sự đến vào giai đoạn đổi mới, khi Đặng Nhật Minh có “Bao giờ cho đến tháng Mười” (1984) và liền đó “Cô gái trên sông” (1987), “Thương nhớ đồng quê” (1995) cũng như một loạt các phim dựa trên những tác phẩm văn học gây dư luận lúc bấy giờ: “Tướng về hưu” (Nguyễn Khắc Lợi, 1988), “Cỏ lau” (Vương Đức, 1993), “Khách ở quê ra” (Đức Hoàn, 1994), “Bến không chồng” (Lưu Trọng Ninh, 2001), “Người đàn bà mộng du” (Nguyễn Thanh Vân, 2002…

Cảnh trong phim “Song Lang”.
Cảnh trong phim “Song Lang”.

Chính trong bối cảnh văn hóa hậu chiến thì con người đời tư và số phận/thân phận mới là hình tượng nghệ thuật đầu tiên có sức lay động tâm trí khán giả mãnh liệt. Bởi vì họ, thông qua cuộc đời nhiều biến cố và tình thế không - cặp - đôi, đã đánh dấu sự lên tiếng của nỗi buồn, mất mát cay đắng hay cả tiếng cười giễu cợt...

Trước khi có “Thương nhớ đồng quê”, Đặng Nhật Minh gây chú ý với “Cô gái trên sông”, nơi một lần nữa, thái độ phê phán xã hội hậu chiến được đạo diễn gài cắm vào nhân vật người cách mạng mà, với sự tráo trở và tha hóa đạo đức, hẳn anh ta là một phản đề. Rudiger Tomczak, nhà phê bình điện ảnh người Đức, nhận xét về nhân vật này: “Từ một con người sống theo lí tưởng trước đây nay chỉ còn là một đại diện của quyền lực chai lì và bất khả xâm phạm”.

Tuy nhiên, phải đến “Thương nhớ đồng quê”, với lời lẽ trần tình độc thoại của kiểu nhân vật thân phận thì mới đem lại những nỗi lo âu sâu sắc thực sự. Trong phim, khi những cá thể thuần nông bắt đầu chớm nhận ra nỗi buồn hắt hiu trên mặt đất, khi hai đứa trẻ là cái Minh, cái Mị mãi mãi nằm lại nơi cánh đồng ở tuổi mười ba bởi một tai nạn thương tâm (cả hai bị chiếc xe chở cột điện cán chết) thì người ta hiểu rằng, đồng quê rất có thể sẽ gánh lấy những chuỗi tai nạn tiếp theo bởi quá trình đô thị hóa.

2. Nếu coi cô đơn như cánh cửa dò thấu những vực thẳm bí ẩn trong đời sống tinh thần con người hiện đại, là dấu chỉ cho ý niệm suy tư về bản thể, thì phải đợi đến “Xích lô” (1995), “Mùa hè chiều thẳng đứng” (Trần Anh Hùng, 2000), “Mê Thảo thời vang bóng” (Việt Linh, 2002), “Thung lũng hoang vắng” (Phạm Nhuệ Giang, 2002), “Mùa len trâu” (Nguyễn Võ Nghiêm Minh, 2004), điện ảnh Việt Nam mới thực sự dò đến địa cầu cô đơn, với những bước đi tuy không mấy quyết liệt, gai góc và say mê như điện ảnh Đài Loan hay Hồng Kông, nhưng lại khá tinh tế.

Ở “Xích lô”, các nhân vật đều vô danh, họ tự phơi mở cuộc đời mình trên đường phố, trong các nhà ổ chuột, trong các cuộc rượt đuổi. Không gian phố tranh tối tranh sáng, đông cứng những dòng người xa lạ là dịp để những tiếng vọng kí ức, giấc mơ trộn lẫn vào không khí bụi bặm thô ráp.

Nhân vật tên đại ca là con người bị dìm kín bởi chiều sâu nội tâm không lời, cô đơn vùi sâu vào sự im lặng, vào đường nét nhập nhằng mờ nhòe của kí ức cho đến khi ngọn lửa tự chấm dứt sự hiện hữu tội lỗi của chính anh ta.

Trong “Mùa hè chiều thẳng đứng”, cùng với đam mê dục vọng thì cô đơn luôn có sức nặng như tảng đá khổng lồ vô hình đè nặng tâm trí mỗi người. Câu hỏi “chúng ta là gì” đậm chất siêu hình đặt dưới bức tranh trừu tượng mà bộ phim đặc tả, gợi nhiều suy tưởng về sự bí ẩn của con người và chỉ riêng điều này, đã làm khán giả day dứt. 

Con người cô đơn và bị lãng quên cũng có mặt trong “Thung lũng hoang vắng”, “Mùa len trâu”. Nếu “Thung lũng hoang vắng” thiên về nỗi cô đơn thân xác, một khía cạnh rất đời thường của những con người dấn thân vùng cao heo hút, nơi đời sống xứ lạ bắt buộc mỗi nhân vật phải rèn luyện tính cách chịu đựng, chế ngự ham muốn thì “Mùa len trâu” nghiêng về nỗi cô đơn bản thể trong mối tương quan với đời sống len trâu sông nước phiêu dạt, với bóng hình Phù Nam, một vương quốc từng ghi dấu ấn văn minh đậm nét trên vùng đất khai hoang. Cuộc tồn sinh của những người len trâu như Kìm bắt đầu từ nước và kết thúc, mãi mãi cũng từ nước.

Thật khó tin rằng, cái thế giới nước mà những người đàn ông từng đầm mình trong đó lại có thể bao la đến thế, bí ẩn và tàn nhẫn đến thế vào lúc họ từ giã cuộc đời. Nước đã không cho cha Kìm một mẩu đất nhỏ bé để yên nghỉ. Kìm đành phải thủy táng cha mình. Mà cái cách thủy táng đó, cũng cay đắng không kém cuộc sống lênh đênh của Kìm. Nỗi mất mát vô hạn này khiến cuộc tồn sinh còn lại mà Kìm phải đối mặt, phải trải qua kéo dài mênh mông như chính sự mênh mông của thế giới nước.

Trong hành trình tìm kiếm và xây dựng con người cô đơn, nhiều đạo diễn đã nhìn thấy thành thị như là nơi chốn đa dạng nhất để các sắc thái phức tạp của cá nhân được bộc lộ. Ở đó, cô đơn không chỉ là tấm áo khoác hờ sau những mệt mỏi, nhọc nhằn mưu sinh mà còn như một thỏi nam châm hút vào đó những kí ức, tình yêu và nỗi sợ hãi, những hi vọng giải thoát và rồi bị trói buộc trong từ trường đạo đức, bổn phận, trách nhiệm... Loạt những phim “Chơi vơi” (2009), “Bi, đừng sợ!” (2010), “Đập cánh giữa không trung” (2014), “Cha và con và…” (2015), “Song Lang” (2018), dầu chưa phải tập trung nhất, nhưng là những mảnh ghép khá chân thực tạo nên diện mạo tinh thần và đời sống người trẻ đô thị hiện nay.

“Chơi vơi” bước đầu xây dựng kiểu con người đa ngã dung chứa nhiều khuôn mặt, nhiều “văn bản” khác nhau mà ở ngữ cảnh này, họ được hiểu còn ở ngữ cảnh khác, thì bị hiểu hoặc không thể hiểu. Tiếp nhận câu chuyện của “Chơi vơi”, người ta thấy nó “chới với”, rất khó nắm bắt, câu chuyện không tuân theo kết cấu chặt chẽ, không kịch tính cao trào và hành động quyết liệt. Tuy nhiên, rõ ràng, “Chơi vơi” lại có một hành cách khám phá ẩn ngữ cơ thể độc đáo, nơi những tinh khiết, đau khổ, ham mê được soi chiếu cầu kì. Cơ thể, rút cuộc, vẫn là “miền” xa lạ với mỗi người, sở hữu cơ thể không có nghĩa là ta đã hiểu và chỉ huy được nó.

Nói rộng hơn, nó là cái ngoài ta và vô hình trong mọi trường hợp. Đọc bộ phim từ góc độ này, tôi càng thấy, Chơi vơi không chỉ là cảm giác mà còn là một trạng thái nhân sinh có tính phổ quát: con người luôn bị dạt ra khỏi vòng kiềm tỏa của chính bản thân mình.

Với “Song Lang”, người trẻ thành thị cô đơn không phải vì từ bỏ, trốn tránh gia đình mà vì những mặc cảm, day dứt khi che đậy, loại bỏ con người thật của mình. Dũng “thiên lôi” trong “Song Lang” tuy là giang hồ đòi nợ thuê đánh người không chùn tay, nhưng lại xuất thân trong gia đình có truyền thống hát cải lương. Vẻ du thủ du thực bên ngoài không làm phai nhạt những kí ức sân khấu trong Dũng và vì thế, khi phải sống đời hai mặt, Dũng luôn rơi vào bản án nội tâm. 

3. Mặc dù, không khó để nhận ra ảnh hưởng của Thái Minh Lượng, Vương Gia Vệ trong những phim trên nhưng theo tôi, con người cô đơn sẽ còn được điện ảnh Việt Nam tìm cách nhận diện, khai thác trong bối cảnh xã hội rất riêng của Việt Nam.

Ở đó, cùng với nhu cầu xác thực kĩ càng hơn về bản thể, những người làm phim và cả công chúng điện ảnh đang gặp nhau ít nhất ở một chờ đợi lớn: họ không muốn trở nên xa lạ với chính mình. Tìm cách biểu đạt mình, dầu lặng lẽ đến mức nào, vẫn cần nằm trong hạt nhân của sáng tạo, là tấm thẻ căn cước để trình diện với quốc tế. Riêng điều này, quả thật, cũng khá lâu rồi, điện ảnh Việt chưa làm đạt mức tròn vai.

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?