Có một dòng sông mang tên Liệt sĩ

Thật đặc biệt khi có một dòng sông, một con đường cùng mang tên liệt sĩ Nguyễn Văn Phùng (bí danh Phạm Khắc), nhắc nhớ mãi về công trạng của người con đã chiến đấu và hy sinh anh dũng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Con sông đào có tên Phùng Khắc trải dài từ đò Vạn (huyện Kinh Môn, Hải Dương) đến giáp huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) có từ năm 1956. Bên dòng sông ấy, 46 năm sau, ngày 18-12-2002, con đường Phùng Khắc nối huyện Kinh Môn với các huyện Chí Linh (Hải Dương) và Thủy Nguyên (Hải Phòng) được khánh thành. 

Thật đặc biệt khi có một dòng sông, một con đường cùng mang tên liệt sĩ Nguyễn Văn Phùng (bí danh Phạm Khắc), nhắc nhớ mãi về công trạng của người con đã chiến đấu và hy sinh anh dũng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Bà Ngô Thị Hảo về làm vợ ông Nguyễn Văn Phùng ở làng Xuân Viên, xã Xuân Sơn, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Yên (nay là khu Xuân Viên 2, phường Xuân Sơn, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). 

Vợ tần tảo sớm hôm, chồng dùi mài đèn sách, đúng như cảnh trong câu ca dao: “Quả cau nho nhỏ/ Cái vỏ vân vân/ Nay anh học gần/ Mai anh học xa/ Tiền gạo thì của mẹ cha/ Cái nghiên, cái bút thiệt là của em”

Một buổi sáng, Nguyễn Văn Phùng bảo vợ: “Ngày mai Hảo làm mâm cơm để tiễn ông thầy dạy tôi, còn tôi sẽ lên đường đi làm cách mạng”. Trong suy nghĩ của người vợ lúc đó, quyết định đi làm cách mạng của chồng vừa đột ngột, vừa quan trọng và thiêng liêng lắm. Nhà hôm ấy không có sẵn thức ăn, đành bắt con gà đang ấp trứng để làm cơm. Đó là năm 1943, Nguyễn Văn Phùng tròn 18 tuổi.

Liệt sĩ Nguyễn Văn Phùng.
Liệt sĩ Nguyễn Văn Phùng.

Tham gia cách mạng từ giai đoạn tiền khởi nghĩa, Nguyễn Văn Phùng tham gia thành lập Đảng ủy huyện Đông Triều. Cuốn Sử huyện Đông Triều còn lưu: “Đồng chí Nguyễn Văn Phùng là một trong năm đảng viên đầu tiên của huyện bộ Việt Minh Đông Triều - tổ chức tiền thân của Đảng bộ huyện sau này. Đồng chí Nguyễn Văn Phùng trở về địa bàn xây dựng cơ sở cứu quốc, phải đương đầu với hàng loạt khó khăn, nào tiễu phỉ trừ gian, nào quân Tàu Tưởng gây sách nhiễu”. 

Trong những ngày tháng ấy, hai người con gái của Nguyễn Văn Phùng lần lượt ra đời. Để đảm bảo an toàn, Nguyễn Văn Phùng đưa vợ con lánh về quê ngoại còn mình trở về Đông Triều lãnh đạo nhân dân kháng chiến và xây dựng nơi đây thành căn cứ du kích.

Mặc dù rất nhớ thương các con nhưng người cha hầu như không có thời gian về gặp mặt. Năm 1947, Nguyễn Văn Phùng là chính trị viên huyện đội Đông Triều và một năm sau được điều động về làm Trưởng ban Chính trị, Chính trị viên phó Tỉnh đội Quảng Yên.

Những năm 1952-1953, tình hình chiến sự ở Kinh Môn rất ác liệt, quân Pháp ra sức xây bốt lập tề, tiến hành nhiều đợt càn quét, khống chế liên lạc giữa vùng tự do với vùng du kích. Nguyễn Văn Phùng được Tỉnh đội phân công về Kinh Môn diệt ác, phá tề, khai thông liên lạc giữa cơ quan lãnh đạo kháng chiến vùng Sơn Động (Bắc Giang) với vùng tạm chiếm Kinh Môn, trọng tâm là chuẩn bị phương án đánh địch ngay trong lòng địch.

Đây là một nhiệm vụ khó khăn phức tạp vì trong bối cảnh đồn bốt, tề ngụy dày đặc nên rất khó bố trí được địa điểm bộ đội tập kết. Không những thế, trung tâm chỉ huy lại ở xa, địa hình bị ngăn cách bởi ba con sông lớn là sông Than, sông Kinh Thầy và sông Mạo Khê.

Phải mất nhiều thời gian nghiên cứu, Nguyễn Văn Phùng mới tìm ra được phương án tối ưu mà trọng tâm chính là đồn Trung Hòa thuộc xã Quang Trung, huyện Kinh Môn - mắt xích quan trọng trong hệ thống đồn bốt của địch. Đây là một đồn lớn, được Pháp xây kiên cố từ năm 1948 nhằm bảo vệ quốc lộ 5 và quốc lộ 18, có giao thông hào rộng 10m, sâu hơn 1m, phía trên có nhiều tầng rào bằng tre, thép gai, dưới có chông nhọn.

Địch dùng đồn này để khống chế các xã xung quanh là Quang Trung, Lạc Long và Thăng Long khiến cho các lực lượng du kích, bộ đội, cán bộ địa phương không hoạt động được, phải sơ tán ra các xã xung quanh, tề gian mọc ra nhiều, một số thôn cơ sở trắng. Trấn giữ đồn này là cả một đại đội quân bảo an cộng hòa thay thế cho quân viễn chinh Pháp.

Nung nấu kế hoạch đánh đồn Trung Hòa, Nguyễn Văn Phùng dành thời gian tìm hiểu, bắt liên lạc với Trần Văn Kim - trung đội trưởng quân bảo an cộng hòa đóng trong đồn. Sau nhiều lần gặp gỡ, Nguyễn Văn Phùng đã thuyết phục được Trần Văn Kim là nội ứng cho quân ta.

Kế hoạch đánh đồn đã được Nguyễn Văn Phùng vạch ra hết sức tài tình mà lực lượng nòng cốt là Đại đội 910 thuộc Tiểu đoàn Bạch Đằng của tỉnh Quảng Yên - một đơn vị mạnh được Khu ủy Việt Bắc tặng cờ thi đua xuất sắc. Nguyễn Văn Phùng còn được sự ủng hộ của bà mẹ vợ Trần Thị Mùi - một người có tinh thần cách mạng và luôn ủng hộ hết lòng cho kháng chiến. Bà Mùi đã đồng ý cho con rể thực hiện kế hoạch đánh địch ngay trong nhà mình.

Tối ngày 11-4-1953, Đại đội 910 mật phục tại khu vườn nhà bà Trần Thị Mùi ở xã Quang Trung. Theo kế hoạch định sẵn, Trần Văn Kim dẫn lính đi tuần rồi mời chúng vào nhà cụ Mùi, lấy cớ nhà hôm đó tổ chức cúng giỗ, có xôi chè thết đãi. 

Khi địch vào nhà, cụ Mùi ra sau vườn ra ám hiệu, bộ đội ta xông vào bắt gọn. Ngay sau đó bộ đội ta lấy quân phục của bọn địch vừa bắt được để cải trang, với sự giúp sức của Trần Văn Kim, tiến sâu vào đồn Trung Hòa.

Tại đây, sau khi khống chế được lính gác, Nguyễn Văn Phùng và đồng đội đã nhanh chóng chiếm giữ các vị trí xung yếu của đồn, kêu gọi địch đầu hàng. Toàn bộ trận đánh diễn ra không một tiếng súng. Quân ta bắt gọn một đại đội lính Việt Nam cộng hòa, thu trên 100 khẩu súng các loại cùng số quân trang quân dụng lớn.

Sau chiến thắng, lực lượng của ta rút về căn cứ du kích Nhị Chiểu nhưng vì trời đã gần sáng, bộ đội không kịp vượt sông nên toàn bộ lực lượng phải dừng lại ở làng Đích Sơn (xã Hiệp Hòa, huyện Kinh Môn) - một làng du kích mạnh có nhiều công sự và hầm bí mật. Thất bại ở đồn Trung Hòa, địch điên cuồng tấn công vào làng Đích Sơn.

Cùng đồng đội.
Cùng đồng đội.

Tại khu phòng ngự Đích Sơn, bộ đội, du kích và nhân dân đã củng cố các công sự, chuẩn bị lương thực cho việc chiến đấu lâu dài với tinh thần phấn chấn do chiến thắng bốt Trung Hòa mang lại. Đồng chí Nguyễn Văn Phùng đến từng tổ chiến đấu động viên tinh thần.

5h15 ngày 12-4-1953, địch bắn đại bác liên tục từ Phú Thái, Lai Khê và đồn cao Đông Triều vào làng, rất nhiều nhà dân bị cháy, khói bay mù mịt. Sau khi im tiếng đại bác, địch dàn hàng ngang tấn công dồn dập.

Theo lệnh của chỉ huy Nguyễn Văn Phùng, quân ta chờ địch tiến đến gần chiến lũy mới nổ súng, hạ hàng loạt quân địch. Liên tiếp sau đó Đại đội 910 cùng du kích xã dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Văn Phùng đã kiên cường đánh lui 7 đợt tấn công của một trung đoàn lính tinh nhuệ có yểm trợ của xe bọc thép, tàu chiến và đại bác, tiêu diệt gần 300 tên trong đó có nhiều lính Âu Phi. 

Đến 5h chiều, địch huy động 6 xe tăng và tàu bay tấn công dữ dội vào trận địa phòng ngự của ta và tràn vào làng.

Trong tình thế gấp gáp, Nguyễn Văn Phùng bình tĩnh hội ý nhanh trong ban chỉ huy, cho phổ biến chính sách khoan hồng của cách mạng và phóng thích tù binh, cất giấu vũ khí, lệnh cho các lực lượng không trực tiếp chiến đấu xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng. Còn Nguyễn Văn Phùng ở lại cùng anh em đánh giáp lá cà với quân địch đang tràn vào.

Đồng chí Phạm Thị Lê - cán bộ phụ trách dân công, tải thương và hậu cần trận đánh sau này nhớ lại: “Trong lúc nguy cấp, tôi hỏi: “Anh Phùng bây giờ phải làm thế nào?”. 

Anh Phùng nhặt một khẩu súng giúi vào tay tôi và nói: “Đồng chí theo tôi, hôm nay chúng ta quyết sống chết một phen”. Nói rồi anh nhặt khẩu súng trường của một đồng đội đã ngã xuống, bật lưỡi lê và xông lên đánh giáp lá cà. Tôi chạy theo đồng chí Phùng được một đoạn, địch bắn dày đặc, một đồng chí bộ đội cạnh tôi bị trúng đạn, xô tôi ngã xuống, máu đồng chí thấm đỏ người tôi. 

Quân địch tràn tới, tôi đành im giả vờ như người đã chết... Trời tối dần, tôi cố hết sức lết xuống ao bèo tây và núp sau bụi cây gáo. Khi địch đã rút hết, anh em du kích tìm thấy tôi. Câu đầu tiên tôi hỏi: “Anh Phùng đâu?” thì nhận được câu trả lời trong nghẹn ngào: “Anh Phùng đã hy sinh khi đánh giáp lá cà rồi”. Tôi lặng người đi không nói được lời nào nữa. Hôm ấy là ngày 12-4-1953”.

Sau chiến thắng bốt Trung Hòa, bọn tề ngụy sợ hãi phải nằm im, một số ra đầu thú, không dám lộng hành như trước. Ba xã Lạc Long, Quang Trung và Thăng Long được giải phóng. 

Tấm gương chiến đấu và hy sinh anh dũng của đồng chí Nguyễn Văn Phùng đã tạo đà cho phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ, nhân dân tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Một năm sau, liệt sĩ Nguyễn Văn Phùng được truy tặng Huân chương Quân công hạng Ba. Năm 1958 đồng chí được truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công.

Nhưng cũng sau chiến thắng Trung Hòa, người vợ Ngô Thị Hảo và hai cô con gái nhỏ vĩnh viễn mất đi người chồng, người cha của mình. Nghe tin chồng hy sinh, bà Hảo nghẹn ngào không thốt nên lời, suốt mấy ngày liền lầm lũi như cái bóng.

Rồi bà gượng dậy, lam lũ làm lụng để nuôi hai con khi ấy mới lên 6 và 8 tuổi khôn lớn trưởng thành. Tấm lưng bà còng xuống, đôi bàn chân chai lại theo năm tháng. Không phụ lòng mẹ và để xứng đáng với sự hy sinh của cha, hai người con gái đã cùng mẹ vượt qua muôn vàn khó khăn trong cuộc sống, quyết chí học hành.

Con gái cả Nguyễn Thị Nhất là kỹ sư thủy sản, nguyên Phó giám đốc Tổng công ty Xuất nhập khẩu thủy sản Hà Nội Seprodex, con gái út Nguyễn Thị Nhàn là bác sĩ y khoa. Mặc dù hai chị em không được ở gần cha nhưng những câu chuyện kể của mẹ luôn khiến họ cảm nhận được cha rất gần gũi.

Cô Nguyễn Thị Nhất nay đã hơn 70 tuổi bùi ngùi lật giở những tấm ảnh đen trắng quý giá lưu giữ hình ảnh người cha Nguyễn Văn Phùng: “Mẹ tôi bảo rằng, cha tôi hiền lắm, không nỡ trách mắng ai bao giờ. Vậy mà khi ra trận thì gan dạ, quyết liệt vô cùng. Tôi luôn nghĩ về cha mình với một niềm tự hào và thương nhớ vô bờ”.

Suốt mấy chục năm qua, hai người con gái đã không quản công sức tìm gặp những người từng là đồng đội của cha, nghe kể về cuộc sống chiến đấu của cha Nguyễn Văn Phùng năm xưa. Năm 2003, Nhà tưởng niệm liệt sĩ Nguyễn Văn Phùng đã được hai người con xây dựng tại quê hương Đông Triều, Quảng Ninh. 

Năm 2005, bà Nguyễn Thị Hảo qua đời, nhưng ước nguyện chồng mình được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp thì vẫn còn dang dở.

Hiện tại, hai người con gái của bà tuy tuổi đã cao nhưng vẫn gắng sức để niềm mong mỏi của mẹ trở thành hiện thực. Hồ sơ đề nghị truy tặng danh hiệu cho liệt sĩ Nguyễn Văn Phùng đang được hoàn thiện để một ngày không xa, công lao của liệt sĩ được ghi nhớ đời đời, tồn tại mãi cùng con đường và dòng sông Phùng Khắc...

Huyền Châm

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?