Cổ Loa: Những trầm tích văn hóa

image001.jpg
Toàn cảnh Di tích Cổ Loa

Nằm ở phía bắc Hà Nội, không đơn thuần là một di tích khảo cổ hay một địa danh gắn với chùm huyền thoại nổi tiếng, Cổ Loa là một “địa tầng văn hóa” đặc biệt. Nơi đây nhiều lớp lịch sử, khảo cổ, truyền thuyết, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng chồng xếp lên nhau đã hàng nghìn năm. Không được tạo dựng từ đá như nhiều thành cổ nổi tiếng trên thế giới, dựa vào địa hình tự nhiên, kết hợp với hệ thống sông, đầm, ao hồ, thành Cổ Loa chủ yếu được đắp bằng đất. Theo thời gian, những con lũ, những biến động địa chất và quá trình cư trú lâu dài đã làm thay đổi diện mạo ban đầu. Nhưng dấu tích cơ bản còn lại vẫn đủ để hình dung về một công trình quy mô lớn. Tên gọi Cổ Loa gợi lên một cấu trúc thành nhiều vòng xoáy. Trong lịch sử, từng được xem là kinh đô của nước Âu Lạc. Những điều ấy cho thấy đây là một trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế quan trọng của cư dân Việt cổ.

Một ý nghĩa khác của Cổ Loa là vị trí quan trọng trong lịch sử vùng đất Thăng Long - Hà Nội. Cũng không xa Cổ Loa là núi Sóc Sơn vững vàng gắn liền với huyền thoại Thánh Gióng. Như vậy, phía Bắc không gian Thăng Long có những “điểm tựa thiêng”: của thế núi phong thủy trong địa lý, của huyền thoại trong văn hóa, của tinh thần quật khởi trong ý thức. Có phải vì thế chăng mà ngựa Thánh Gióng và rồng Thăng Long cùng “bay lên trời” - những hình tượng thẩm mỹ đậm chất lý tưởng biểu hiện khát vọng thật đẹp về sự vươn mình, phát triển, bay cao, bay xa.

Những vòng thành của một nền văn minh

Đằng sau cấu trúc độc đáo của những vòng thành là cả một trình độ tổ chức xã hội và kỹ thuật. Chắc chắn phải cần đến lực lượng lao động đông đảo, khả năng huy động nguồn lực, phân phối không gian và kinh nghiệm trị thủy, hiểu biết về vật liệu... Mỗi lớp đất, mỗi đoạn thành, mỗi lòng hào đều là một dấu vết của hoạt động con người. Không chỉ để dùng vào mục đích quân sự, với mỗi một công trình thành quách phòng thủ xưa, cũng đồng thời nói lên khả năng tổ chức cộng đồng. Thành Cổ Loa là một trong những dấu tích đặc sắc của quá trình hình thành nhà nước sơ kỳ trong lịch sử Việt Nam.

Trầm tích là những gì đã lắng xuống để tạo nên chiều sâu cho hiện tại. Cổ Loa là tiêu biểu. Nơi đây mỗi lớp đất là một lớp thời gian, mỗi hiện vật là một mảnh ký ức, mỗi biểu tượng truyền thuyết là một cách đối thoại giữa các thế hệ. Thế nên, Cổ Loa còn là một không gian ký ức của dân tộc. Hàng vạn mũi tên được phát hiện không phải là bằng chứng trực tiếp cho sự tồn tại của nỏ thần trong truyền thuyết. Nhưng qua đó giúp hôm nay phần nào hình dung ra cách tổ tiên ta đánh giặc giữ nước. Nhiều phát hiện khảo cổ cho thấy cư dân Cổ Loa từng đạt trình độ phòng thủ quân sự đáng kể. Ở đây huyền thoại và hiện thực không loại trừ nhau, mà soi sáng cho nhau. Truyền thuyết phóng đại sức mạnh của vũ khí thành một “nỏ thần”. Khảo cổ học cung cấp những bằng chứng vật chất về năng lực tác chiến. Sự gặp gỡ giữa lịch sử và huyền thoại tạo nên sức hấp dẫn của Cổ Loa. Những mũi tên đồng nhỏ bé, với hôm nay không còn sức mạnh, nhưng là một mã văn hóa về một xã hội từng biết khai thác kim loại, chế tác vũ khí và tổ chức chiến tranh. Từ những hiện vật quý giá ấy, cả một thế giới cổ xưa được đánh thức.

Huyền thoại kết nên biểu tượng

image003.jpg
Những mũi tên đồng Cổ Loa.

Lịch sử tìm đến chứng cứ. Khảo cổ học cần đến hiện vật. Huyền thoại neo vào các biểu tượng. Trong tâm thức người Việt có cả một “vũ trụ Cổ Loa”, nhưng đọng lại bền vững nhất là những biểu tượng An Dương Vương, Kim Quy, nỏ thần, Mỵ Châu, Trọng Thủy, giếng Ngọc…

Vượt khỏi giới hạn của một huyền thoại tình yêu, các cây biểu tượng trong khu vườn truyền thuyết Cổ Loa đã kết những trái quả ý nghĩa giáo dục thật đáng suy nghĩ. Phải chăng qua nhân vật Trọng Thủy - “một tình báo viên chiến lược” có đủ vị thế, âm mưu “chui sâu leo cao” để đánh cắp bí mật quân sự quốc gia, trí tuệ dân gian muốn nói rằng: có chiến tranh là có tình báo. Thậm chí tình báo đi trước, góp phần quan trọng vào kết quả thành bại. Phổ quát hơn, từ câu chuyện đặt ra vấn đề: con người phải ứng xử thế nào giữa tình cảm riêng tư và trách nhiệm cộng đồng? Phải chăng Mỵ Châu đã đặt “trái tim nhầm chỗ để trên đầu”, dẫn đến “nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” (Tố Hữu)? Phải chăng chi tiết Mỵ Châu rắc lông ngỗng muốn nói, trong hoàn cảnh chiến tranh luôn phải hết sức cảnh giác, bởi chỉ cần một vật thể rất nhẹ, vô hại, vẫn có thể trở thành những dấu chỉ dẫn đường cho quân xâm lược. Là người có lỗi nhưng cũng là nạn nhân, Mỵ Châu tin chồng nên phản bội quốc gia mà không biết. Khi tình riêng xung đột với nghĩa nước, con người phải lựa chọn thế nào? Không đơn giản là “nhẹ dạ”, sâu xa hơn, lỗi của Mỵ Châu là không nhận thức được vị thế chính trị của chính mình. Nàng dùng logic của tình yêu (cá nhân) để ứng xử trong một hoàn cảnh đòi hỏi logic về chủ quyền đất nước (cái chung). Dân gian đã dùng một vật cực nhỏ (lông ngỗng), để biểu đạt một vấn đề cực lớn của lịch sử: bảo vệ cộng đồng, bảo vệ chủ quyền và sự cảnh giác trước những mối đe dọa ẩn sau quan hệ cá nhân. Đây cũng là đặc điểm của tư duy huyền thoại: một chi tiết biểu tượng có khả năng “nén” trong nó cả một biến cố lịch sử…

Những trầm tích không chỉ nằm dưới lòng đất

Những trầm tích của Cổ Loa còn nằm trong đời sống cộng đồng. Đó là những lễ hội, nghi thức tín ngưỡng, các di tích đình, đền, am, miếu… Là những câu chuyện về An Dương Vương, Mỵ Châu, Trọng Thủy… được kể lại trong dân gian. Là tên đất, tên làng, những phong tục và sinh hoạt văn hóa đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Mỗi thế hệ lại bổ sung một lớp ký ức mới. Vì thế, không hề là một “bảo tàng đóng kín”, Cổ Loa là một không gian văn hóa sống.

Một di tích chỉ thật sự có sức sống khi cộng đồng còn nhận thấy mình có quan hệ với nó. Không chỉ sống bên cạnh di tích, người dân luôn sống trong một không gian văn hóa - lịch sử. Do vậy bảo tồn Cổ Loa không dừng ở việc giữ lại một vài đoạn thành hay trưng bày một số hiện vật, còn là bảo tồn ký ức cộng đồng, không gian văn hóa và tô đậm thêm mối liên hệ giữa con người hôm nay với quá khứ. Thế nên phải làm sao để Cổ Loa trở thành một “phòng học lịch sử” ngoài trời, để người trẻ hôm nay không chỉ học bằng sách, mà còn có thể quan sát trực tiếp những dấu tích của một thời đại. Nơi đây cũng có thể trở thành không gian nghiên cứu liên ngành, nơi khảo cổ học, sử học, văn hóa học, nhân học, du lịch cùng gặp gỡ, đối thoại. Điều này góp phần lý giải ở ngày hôm nay, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (nay thuộc phường Xuân Phương, Hà Nội) rất đông khách tham quan. Phải chăng có một lý do về hình thức: các nhà thiết kế thật tinh tế khi lấy hình dáng “nỏ thần” làm mô hình chính của tòa nhà, gợi về sự kết nối giữa kiến trúc đương đại với một biểu tượng quân sự trong lịch sử và truyền thuyết dân tộc. Ngoài sự tìm về lịch sử, qua hiện vật, là cách con người tìm về với hôm nay, với chính mình.

Từ Cổ Loa đặt ra cho hôm nay một câu hỏi về cách ứng xử với di sản. Không phải là thứ chỉ để ngắm nhìn, di sản phải được hiểu. Muốn hiểu Cổ Loa, phải đọc những lớp đất Loa thành, những hiện vật khảo cổ, những trang sử và những huyền thoại. Trong đó, không chỉ là quá khứ đã qua, còn có cả những giá trị mới đang tiếp tục được kiến tạo. Để không gian sống này đối thoại với quốc tế, không thể là trách nhiệm của một ai, mà của tất cả cộng đồng, cả hệ thống chính trị, cả ký ức tập thể… Công nghệ số có thể giúp số hóa hiện vật, phục dựng không gian, xây dựng bản đồ di sản, tạo ra những phương thức trải nghiệm mới. Nhưng công nghệ vẫn chỉ là phương tiện. Cốt lõi phải là ý thức văn hóa của các chủ thể.

PGS.TS Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.