Cánh võng ru vỗ những giấc mơ

Rất nhiều đứa trẻ từ khi sinh ra đến lúc biết đi đã được nằm nôi, thế nên tự nhiên cái nôi trở thành biểu tượng nguồn cội, truyền thống. Ví như nói "Biển là cái nôi của sự sống"; "Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước; "Việt Bắc là cái nôi của cách mạng"...

 Rất đơn sơ, giản dị, cái nôi là đồ dùng cho trẻ nhỏ nằm, thường được đan bằng mây, có khi làm bằng tre, gỗ, treo lên là có thể đung đưa để ru trẻ ngủ: "Yêu em từ thuở trong nôi/ Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru"!

Tuổi "thôi nôi" tức không nằm nôi nữa, thường 12 tháng. Ngày nay "phú quý sinh lễ nghĩa", các bậc cha mẹ thường làm lễ mời họ hàng anh em thân quen đến chia vui để mừng cho cháu "bước vào tuổi mới". Cũng là một dịp kỷ niệm đánh dấu giai đoạn đầu đời của mỗi người. Ca dao xưa đã gắn nối hai đầu thời gian, đầu này là "bây giờ" của thực tại, đầu kia là "lúc nằm nôi" thời quá khứ: "Thương em từ lúc nằm nôi/ Em nằm em khóc anh chia đôi cục đường/ Bây giờ em có người thương/ Em đem trả lại cục đường cho anh". Có gì đấy một chút hờn dỗi, trách móc, giận hờn...

Bản thân sự vật đã giàu có hàm lượng trữ tình nên tất yếu phải là đối tượng của thơ khám phá, gửi gắm, ký thác, bày tỏ... Nhiều tác gia hiện đại làm thơ về cái nôi nhưng có lẽ Xuân Tùng nói cụ thể mà ấn tượng hơn cả về những hình ảnh gần gũi trên cơ sở liên tưởng ấn tượng tuổi thơ sinh động: "Ngôi nhà xưa đã dựng lại mấy lần/ Nơi tuổi thơ chập chững đôi chân/ Nơi buộc tao nôi, nằm nghe mẹ hát/ Trong lời mẹ có cánh cò cánh vạc/ Có dòng sông, cánh bướm dập dờn/ Cả một thời xuân sắc cho con" (Xuân Tùng - "Vườn cổ tích").

Cánh võng ru vỗ những giấc mơ -0
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ...!!!

Nếu nôi dành cho trẻ con thì võng dành cho mọi người, cả trẻ con, người lớn. Hình như thế mà hình tượng cái võng phổ biến hơn, đến mức nhiều vùng quê gọi luôn cái nôi là cái võng bé/con. Thực tế thì võng là đồ dùng được đan bằng sợi đay hoặc may bằng vải dày, ngày nay thường đan bằng nhiều sợi dây dù (võng dù). Ngày trước thường đan võng bằng sợi tre vót mịn nằm rất mát: "Anh về chẻ nứa đan sàng/ Chẻ tre đan võng cho nàng ru con". Võng được mắc hai đầu lên cao, giữa chùng (võng) xuống. Ngày trước còn nhiều cây cối, trưa hè người lớn, trẻ con hay mang võng ra mắc vào các thân cây để nằm nghỉ. Dưới bóng cây râm mát, gió nam nhè nhẹ, cánh võng như cánh diều chao nhẹ rất dễ đưa người ta vào những khát khao cổ tích. Một giấc ngủ ngon hơn vạn lần nằm trong phòng điều hòa...

Trở về trước nữa thì cái võng là biểu trưng cho hạnh phúc, tài lộc, ai ai cũng mơ ước hình ảnh, nhất là các cô gái mong lấy được chồng đỗ đạt làm quan để "kiệu anh đi trước võng nàng theo sau"... Muốn được vậy phải học, nên các nàng nhà ta "Chẳng tham ruộng cả ao liền/ Chỉ tham cái bút cái nghiên anh đồ". Nhưng học trò trong quan niệm dân gian lại gần với cái sự lười biếng, thế nên lại có ca dao chế giễu: "Ai ơi chớ lấy học trò/ Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm". Các cậu học trò chẳng vừa bèn có ca dao đối lại: "Hay nằm thời có võng đào/ Dài lưng thời có áo trào nhà vua/ Hay ăn thời có gạo kho/ Việc gì mà chẳng ăn no lại nằm".

Sống ở xứ sở nhiệt đới nóng bức nên người Việt gắn liền với cái võng, ngày xưa nhà nào hầu như cũng có, ai cũng có thể nằm võng nghỉ ngơi. Thành ra nằm võng trở thành biểu tượng chỉ sự hưởng thụ an nhàn: "Ra đồng gió mát thảnh thơi/ Thương người nằm võng nắng nôi ở nhà". Câu ca dao này "mát mẻ" những kẻ ăn không ngồi rồi, chỉ biết hưởng thụ, không biết lo nghĩ làm ăn. Dân gian cũng mượn hình tượng để mỉa mai rỉa rói những kẻ "thích thể hiện": "Ra đường võng áo xênh sang/ Về nhà hỏi vợ cám rang đâu mày?". Nhưng cũng có câu nói về sự chua chát, chán nản: "Có võng mà chẳng có đòn/ Có chồng mà chẳng có con để bồng". Võng còn có chức năng để khiêng nên thường có đòn tre để gần, khi cần thì khiêng, khiêng người, vật...Vợ chồng son, nhà không có trẻ võng thường để không. Đó cũng là một sự buồn, trống vắng, thậm chí bi kịch.

Chiếc võng hẳn nhiên là ngữ liệu để thơ tình thể hiện. Bài thơ "Cánh võng" của Ngô Viết Dinh đã làm xuất sắc điều ấy: "Anh mắc võng để em chao/ Cho muôn say đắm đổ vào tim anh/ Tình yêu vốn sẵn chòng chành/ Nhưng bên em đã có anh đỡ rồi". Bài thơ cũng có những liên tưởng đặc sắc, thuận lý, hợp tình: "Nét trăng cong dải võng xanh/ Cho em đu giữa mát lành trời sao".

Cũng tất yếu cái võng đung đưa trong thơ cho trẻ em. Nhà thơ Định Hải có bài "Cái võng" nhẹ nhàng, dung dị: "Đều đều võng đưa/ Giữa trưa êm ả …". Kiến tạo nhịp thơ đung đưa theo nhịp võng đưa bé vào giấc ngủ. Bé ngủ nhưng người đọc thì thức, để suy nghĩ về nhân tình thế thái, cụ thể là thái độ biết ơn: "Bé ơi! Cái võng/ Thức hoài đưa đưa…". Mượn lời của đứa trẻ, Phan Thế Cải có "Chiếc võng của bố" sâu lắng trí tuệ, thiết tha cảm xúc: "Hôm ở chiến trường về/ Bố cho em chiếc võng/ Võng xanh màu lá cây/ Dập dình như cánh sóng". Bài thơ chứng minh để có thơ hay trước hết phải có tình cảm, phải có trường liên tưởng độc đáo: "Trăng treo ngoài cửa sổ/ Có phải trăng Trường Sơn/ Võng mang hơi ấm bố/ Ru đời em lớn khôn". Câu cuối hơi gượng nhưng đặt trong luồng cảm xúc ấy mà bạn đọc rất dễ cảm thông, thể tất!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.