Buổi hoàng hôn nho học dưới áp lực nền giáo dục Pháp - Việt

Chế độ thi cử Nho giáo, như vậy, đã chính thức tàn khép dưới bàn tay trị vì của một ông vua nhạt nhẽo và ham chơi bậc nhất triều đại sau chót. 

Ngày 31-7-1889, tại Hội nghị Thuộc địa Quốc tế tổ chức ở Paris, Etienne Francois Aymonier, bấy giờ là đương kim Giám đốc Trường Thuộc địa (lÉcole Coloniale) vừa mới thành lập, đã đọc một diễn văn hùng hồn nêu sự cần thiết phải dạy tiếng Pháp thay vì quốc ngữ, mong muốn triển khai triệt để chính sách Pháp hóa người Việt nhằm tạo nên một nước Pháp rộng lớn trên đất Đông Dương bất chấp An Nam có giành được độc lập hay không.

Trước đó mấy tháng, 1-1889, Đồng Khánh qua đời, hoàng tử trưởng Bửu Đảo còn nhỏ tuổi nên chưa được kế vị ngay….

1. Tham vọng của E. Aymonier khó thành nhưng không phải không có tác động nào. Ít nhất, trên phương diện giáo dục, hệ thống và chương trình dạy tiếng Pháp đang lan rộng một cách mạnh mẽ.

Báo cáo thường niên về tình hình Đông Dương năm 1889 cho biết, riêng tại Bắc Kỳ, giáo dục tiểu học nhận được sự quan tâm khá lớn của chính quyền Bảo hộ: có 16 trường nhận được ngân sách tài trợ, 12 trường Pháp - An Nam cho học sinh nam, ba trường nữ tại Hà Nội, Nam Định và Hải Phòng; tại Hà Nội còn có thêm một trường Pháp do giáo sĩ của Hội truyền giáo điều hành.

Ngoài các trường của chính quyền Bảo hộ, còn có khoảng 20 trường tư của người An Nam dạy chữ quốc ngữ và tiếng Pháp sơ đẳng.

Ở Nam Kỳ, quá trình thiết lập giáo dục Pháp Việt còn diễn biến mau lẹ hơn với liên tiếp các nghị định về học chính: nghị định 10-2-1868 lập Học đường thị chính gồm hai trường giáo dục phổ thông và một trường thông ngôn; Nghị định 22-4-1869 đặt chương trình thi tuyển giáo viên bản xứ, trong đó giáo viên hạng nhất phải thi viết chính tả Pháp ngữ và quốc ngữ Latin; Nghị định 17-11-1874 tổ chức lại ngành học chính, quy định học trình cấp tiểu học có tập đọc, tập viết chữ quốc ngữ, chữ Nho, tiếng Pháp; học trình cấp trung học phải học kỹ tiếng Pháp, sơ yếu về văn học Pháp, làm luận bằng tiếng Pháp…

Lớp học tân thời.
Lớp học tân thời.

Nghị định 17-11-1874 áp dụng cho đến khi có Nghị định cải tổ giáo dục ban hành ngày 17-3-1879, trong đó, ở ba cấp học, lớp Pháp ngữ đã hoàn toàn lấn át lớp chữ Nho và quốc ngữ từ nội dung kiến thức cho đến số tiết học. 

Cũng trong khoảng thời gian này, theo Nghị định ngày 6-4-1878 thì kể từ đầu năm 1882, ở Nam Kỳ, mọi giấy tờ văn tự phải làm bằng chữ quốc ngữ, chính thức bỏ Hán - Nôm trong giao dịch với chính quyền.

Những nghị định đó, tuy từng bước một, nhưng đều nhắm đến trọng tâm là loại bỏ dần nền tảng và ảnh hưởng của giáo dục Nho giáo. E. Aymonier không ngần ngại đề xuất một giải pháp mà ông tin là đem lại ưu thế cho người Pháp: xây dựng nên giáo dục Pháp ngữ trên những cơ sở giáo dục Hán học trước đó và mở rộng đối tượng thụ hưởng, không chỉ quan chức nhà nước mà còn hướng tới bình dân An Nam.

Ngày 14-11-1905, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh cho Toàn quyền Đông Dương lập Nha học chính Đông Dương để thống nhất chỉ đạo và điều hành các hoạt động giáo dục. Ngày 20-1-1906, Nha Học chính thành lập và chỉ khoảng hai tháng sau, theo đề nghị của Tổng giám đốc đầu tiên là Henri Gourdon, một Hội đồng cải thiện giáo dục bản xứ đã được thành lập. 

Hội đồng này bắt đầu xem xét một cách nghiêm túc việc lập lại các trường dạy chữ Nho tại Nam kỳ và đồng thời, cải tổ dần chương trình thi hương tại Trung Kỳ, Bắc Kỳ nhằm mở đường đưa thêm tiếng Pháp và các môn khoa học khác vào học trình.

Gấp gáp nhưng thận trọng, ngày 16-5-1906, vẫn theo đề nghị của H. Gourdon, Toàn quyền Đông Dương đã kí liền 4 nghị định liên quan trực tiếp đến cải cách giáo dục bản xứ. 

Với sự kiện này, buổi hoàng hôn của giáo dục và khoa cử Nho giáo trên đất Trung Kỳ, Bắc Kỳ càng thêm lộ rõ: ba bậc học (ấu học, tiểu học và trung học) đều có quốc ngữ và sơ lược tiếng Pháp; thi hương tổ chức 3 năm một kỳ nhưng đã có môn thi phiên dịch từ Hán sang Pháp và từ Pháp sang quốc ngữ, viết luận bằng ba thứ tiếng Hán - Việt - Pháp.

Không những thế, ở bậc tiểu học, tổng số giờ học tiếng Pháp đã lên đến 23 giờ 30 phút/tuần, trong khi học chữ quốc ngữ là 3 giờ 45 phút/tuần, còn học chữ Hán giảm xuống còn 30 phút/tuần.

Đáng chú ý hơn, trong khi sách giáo khoa soạn bằng quốc ngữ và Pháp ngữ không ngừng tăng dung lượng kiến thức hiện đại (trong đó có toán, vật lý, nông nghiệp, văn chương, thương nghiệp, hành chính…) thì sách giáo khoa bằng chữ Hán có xu hướng lược giản tối đa, chỉ mang tính chất “cầm hơi” kiến văn nhập môn (Thiên tự văn, Ấu học giáo khoa, Chu Tử gia huấn, Ấu học luận ngữ, Mạnh Tử chính văn, Sử ký…).  

Cuộc cải cách 1906 này, tuy không phải mọi việc đều thuận buồm xuôi gió, nhưng đã tạo ra một thế hệ trí thức mới, đông đảo về số lượng và đa dạng về thành phần.

Chính họ, giới “tân học” xuất thân từ những ngôi trường Pháp - Việt ấy, bắt đầu tham dự sâu vào những chuyển biến lớn của thời đại, những ngành nghề, công việc cũng như quan điểm và lối sống mới. Đứng cạnh họ, tầng lớp “cựu học” thuần túy cửa Khổng sân Trình bắt đầu cảm thấy lúng túng, lép vế và hụt hơi trong khả năng thích nghi thời cuộc.

Lối học xưa ngày càng tàn lụi
Lối học xưa ngày càng tàn lụi

2. Ngày 18-5-1916, Bửu Đảo lên ngôi, lấy niên hiệu là Khải Định. Ở thời điểm đó, số học sinh trong các trường Pháp - Việt đông gấp đôi các trường chữ Hán vốn co rút về địa phương cấp xã huyện. Nhu cầu và chất lượng thi cử Nho học càng lúc càng xuống cấp đến mức khi Nam Triều của Khải Định tổ chức thi Hương ở Bắc Kỳ vào năm 1915, nó thành kì “thi vét”, khóa đuôi giấc mộng cử nhân, tú tài của sĩ tử bút lông.

Gần hai năm sau, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ban hành Học chính tổng quy, giáng một đòn mạnh vào tình thế lay lắt của mô hình khoa cử Nho học. Theo đó, nền học chính sẽ có ba cấp (tiểu học, trung học, cao đẳng) với hệ thống trường Pháp, trường Pháp - Việt và trường dạy nghề. 

Với chương trình giáo khoa Pháp - Việt, chỉ có hai khoa thi: thi lấy Bằng tiểu học Pháp - Việt (sau khi học hết bậc tiểu học 5 năm) và thi lấy bằng Thành chung (sau khi học xong bậc Thành chung 4 năm).

Ngay lập tức, trên Nam Phong tạp chí (số 12, 6-1918), Phạm Quỳnh viết một bài luận thuyết dài bàn về “cái vấn đề giáo dục ở nước Nam ta” nhưng dành nhiều dung lượng để chào mừng và tóm lược bộ Học chính tổng quy: “Nay quốc dân ta về đường giáo dục đã bước chân vào một thời kì mới […]. Đương lúc cơ hội này, gặp người chủ trương ấy, tưởng cũng là một cái hạnh phúc to cho hậu vận nước Nam ta vậy”. 

Phạm Quỳnh không quên trấn an những người còn lấn cấn Hán học: “Hán học là trọng mà không thể bỏ hẳn được. Trước kia ta mê man về đường ấy quá […]. Ngày nay ta đã tỉnh ngộ ra rồi mà quyết theo về đường học mới”.

Thế nhưng, thấm thía và đích đáng thay, khá nhiều người xuất thân Nho học lại tỏ ra thất vọng về chế độ khoa cử đã từng nhào nặn mình. Lớp nhà Nho duy tân, với cái nhìn thức thời và hiểu biết mới mẻ, đã không ngừng chĩa ngòi bút vào sự lạc hậu, trì trệ của khoa cử Nho học. 

Viết Việt Nam phong tục (1915), cử nhân Phan Kế Bính chua chát: “nhân tâm nước mình say mê bia đá bảng vàng […] Mà rút lại thì có gì đâu, học cũng chẳng qua là học văn chương, thi cũng chẳng qua là thi văn chương […] Vậy mà ta mê mẩn mấy trăm năm vẫn chưa tỉnh hết […] Xem như các nước bên Đông Á ta, như nước Tàu, Nhật, trước cũng thi cử như ta, mà họ bỏ đi đã lâu rồi. Duy ta còn khăng khăng giữ mãi, không biết bao giờ mới đổi được”. 

Chủ trương “đổi lông ra sắt” mà Tản Đà, hiện thân của thất bại trong thi cử Hán học, quyết liệt theo đuổi khi dấn sâu vào con đường viết văn viết báo kiếm ăn, thậm chí, còn không sánh bằng khí thế duy tân, khai dân trí bằng việc học quốc ngữ, đọc Tân thư của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, những bậc túc Nho cũng từng kinh qua thi cử và có hẳn tên trên bảng vàng nhưng không bao giờ đóng mình trong khuôn thức đỗ đạt làm quan mòn cũ.

Hơn ai hết, họ chính là biểu tượng của thời đại Hán học đang dần rẽ ngoặt sang tiếp cận, tiếp nhận các giá trị giáo dục, học thuật phương Tây.

Và cùng với lực đẩy của các phong trào canh tân văn hóa, của các làn sóng cách mạng diễn ra như bão táp, thế hệ trí thức có cỗi gốc Khổng Mạnh ấy sẽ tự thân đứng lên làm mẫu hình tiên phong tìm hiểu, nắm bắt học vấn, văn minh mới.

3. Dưới nhà trường Pháp - Việt, những J. Rousseau, Ch.S. Montesquieu, Voltaire, V. Hugo, A. Musset, A. Daudet,… không chỉ làm mờ dần Tứ thư Ngũ kinh mà còn thuộc về điểm tựa trích dẫn, bàn luận mới. Cái mới từ và nhờ giáo dục, như một cơn gió, lần lượt đánh bật dần các thành trì cũ kĩ, đồng thời tiếp sức cho sự phá rào trong nhận thức và hành động. Ngay cả Khải Định cũng tự tin đỏm dáng hơn trước thần dân, dư luận.

Nhưng lịch sử đã chọn ông vua giỏi xây lăng cho mình này thực thi một công việc có thể coi là tất yếu hơn: Ngày 28-12-1918, chỉ sau khoảng 9 tháng thực hiện bộ Học chính tổng quy, Khải Định ra dụ bãi bỏ thi cử ở Trung Kỳ; ngày 15-5-1919, Khải Định ra đề bàn về “văn minh” ở khoa thi Đình cuối cùng; Ngày 14-6-1919, Khải Định kí dụ bãi bỏ tất cả các trường học chữ Hán cùng hệ thống văn bản quản lí từ triều đình đến cơ sở. 

Chế độ thi cử Nho giáo, như vậy, đã chính thức tàn khép dưới bàn tay trị vì của một ông vua nhạt nhẽo và ham chơi bậc nhất triều đại sau chót. 

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.