Ai là người đầu tiên làm cho sân ga trở thành một hình tượng văn học?

Trong bài “Tế Hanh – dòng sông, mùa hạ” đăng trên Báo Văn nghệ số ra ngày 24-10-2009, nhà nghiên cứu, phê bình văn học Đặng Tiến có viết: “Chữ "Ga" gốc tiếng Pháp đã du nhập vào Việt Nam từ lâu. Nhưng có lẽ đến bài “Những ngày nghỉ học”, 1938, sân ga mới trở thành một hình tượng văn học có chức năng truyền cảm, thay cho những bến đò, những quán trọ ngày xưa” (“Những ngày nghỉ học” mà Đặng Tiến nói đây là một bài thơ hay của nhà thơ Tế Hanh). 

Hai chữ “có lẽ” trong đoạn văn trên chứng tỏ kinh nghiệm nghề nghiệp lâu năm của nhà nghiên cứu và phê bình: Ông tỏ ra có đôi chút dè dặt, chưa khẳng định. Và trong trường hợp này, điều đó là cần thiết.

Thật ra, nếu như Đặng Tiến cho rằng sân ga “trở thành một hình tượng văn học có chức năng truyền cảm, thay cho những bến đò, những quán trọ ngày xưa” thì đã có bài “Những bóng người trên sân ga” của nhà thơ Nguyễn Bính viết năm 1937, trước bài “Những ngày nghỉ học” của Tế Hanh, mà Đặng Tiến dẫn.

Mặt khác, dù cả hai bài thơ của Nguyễn Bính và Tế Hanh đều hay, nhưng “chức năng truyền cảm” của bài thơ Nguyễn Bính, theo tôi, đã sớm hơn, còn ấn tượng hơn bài thơ của Tế Hanh. Bài thơ Tế Hanh có “đối tượng” là con người và đoàn tàu, nhưng có tính khái quát và có phần chung chung. Bài thơ Nguyễn Bính thì “đối tượng” là con người với những lớp tuổi, những cảnh ngộ... khác nhau, và cụ thể hơn, đậm nét hơn.

Không phải bỗng chốc bạn đọc nào cũng có cả hai bài thơ để thưởng thức, để so sánh. Tôi ghi lại đây cả hai bài: “Những bóng người trên sân ga” theo “Tuyển tập Nguyễn Bính” (Nhà xuất bản Văn học, 1986) và “Những ngày nghỉ học” theo “Tuyển tập Tế Hanh” (Nhà xuất bản Văn học, 1987).

Ga Hà Nội thời Pháp thuộc.

Ga Hà Nội thời Pháp thuộc.

Những bóng người trên sân ga

                           Nguyễn Bính

Những cuộc chia lìa khởi tự đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc
Lần lượt theo nhau suốt tối ngày.

Có lần tôi thấy hai cô bé
Sát má vào nhau khóc sụt sùi
Hai bóng chung lưng thành một bóng:
“Đường về nhà chị chắc xa xôi?”.

Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
Ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu.

Hai người bạn cũ tiễn chân nhau
Kẻ ở trên toa kẻ dưới tàu
Họ giục nhau về ba bốn bận
Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu.

Có lần tôi thấy vợ chồng ai
Thèn thẹn đưa nhau bóng chạy dài
Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
“Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”.

Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly.

Những chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

                                Hà Nội, 1937

Xin lưu ý thêm: So với bản in đầu, trong tập “Tâm hồn tôi” in năm 1940, Nguyễn Bính đã lược bỏ đoạn này vốn là đoạn kết của bài thơ, theo tôi, là rất đúng, vì nó hơi “lạc” so với cả bài:

Tôi đã từng chờ những chuyến xe
Đã từng đưa đón kẻ đi về
Sao nhà ga ấy, sân ga ấy
Chỉ để cho lòng dấu biệt ly?

Những ngày nghỉ học

                           Tế Hanh

  (Tặng Nguyễn Văn Bổng)

Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa

Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có chi vướng víu trong hơi máy
Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau.

Bánh nghiến lăn lăn quá nặng nề;
Khói phì như nghẹn nỗi đau tê;
Lâu lâu còi rúc nghe rền rĩ;
Lòng của người đi réo kẻ về.

Kẻ về không nói bước vương vương...
Thương nhớ lan xa mấy dặm trường
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương.

                                             1938

Cũng cần nhấn mạnh rằng, cùng với những câu thơ lẻ tẻ có ở bài này, bài khác viết về nhà ga, về đoàn tàu... Nguyễn Bính còn có những bài thơ nữa viết riêng về nhà ga, về đoàn tàu và những người đi, kẻ về... Ở lĩnh vực này, có thể nói, trong các nhà thơ Việt Nam, Nguyễn Bính là người viết về ga, về tàu nhiều nhất, hay nhất.

Điều này không khó lý giải. Nguyễn Bính vốn thích giang hồ. Mà ngày ấy, đi xa, chỉ có tàu hỏa là tiện nhất.

Hồi ký của ông Trần Nhân Cư, một người có làm thơ và làm việc ở ga Đầu Cầu (trích đăng trong “Nguyễn Bính toàn tập”) có kể lại rằng, một lần Nguyễn Bính đã chủ động đến gặp ông làm quen, sau đó đưa cả Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Tô Hoài xin đi nhờ tàu lên Kinh Bắc chơi với Vũ Hoàng Chương.

Ông Trần Nhân Cư còn kể: “Bính đã quen anh em nên không phải lúc nào tôi cũng ngồi tiếp. Lúc tôi bận việc thì Bính ra ngoài sân ga nhìn hành khách; lúc tàu đến, tàu về, tôi làm phận sự thì Bính cũng ra đón tàu, ngắm người lên xuống. Tôi cứ để anh được tự nhiên. Bài “Những bóng người trên sân ga”, anh đã lấy thi hứng ở ga Đầu Cầu, chợ Đồng Xuân”.

Ngoài bài thơ “Những bóng người trên sân ga”, Nguyễn Bính còn có “Chuyến tàu đêm” in trong tập “Lỡ bước sang ngang” (1940) và các bài: “Ga đơn ga kép”, “Nhà ga”, “Nửa đêm nghe tiếng còi tàu” viết trước năm 1945, chưa đưa vào tập thơ nào của Nguyễn Bính, và cũng rất ít thấy xuất hiện trên báo chí lâu nay, hầu hết chỉ thấy trong “Nguyễn Bính toàn tập” (Nhà xuất bản Văn học, 2008).

“Nguyễn Bính toàn tập” in có 500 bản, ít bạn đọc được tiếp xúc với những bài thơ này, ở đây, tôi ghi lại hai bài: “Chuyến tàu đêm” đã in trong tập “Lỡ bước sang ngang”, rất gần với bài “Những ngày nghỉ học” của Tế Hanh đã nói trên; và bài “Nhà ga” (1940) chưa in trong tập thơ nào, với nghệ thuật sử dụng ngôn từ một cách tài tình, Nguyễn Bính đã thể hiện sinh động cuộc sống êm đềm nhưng bình lặng, đơn điệu, quẩn quanh ở một ga xép – nơi ngày nào cũng như ngày nào, chứng kiến chừng ấy con người, chừng ấy chuyến tàu chở kẻ đi, về...

Chuyến tàu đêm

                                (Tặng Ch.Ng.)

Gió lạnh, nghe chừng đêm thấy sâu;
Mà con đò mộng đã sang đâu!
Qua sông, một chuyến tàu đêm chạy,
Một chuyến tàu đêm chạy rất mau.

Những ánh đèn phai tựa nắng tà,
Toa này toa khác nối liền toa.
Chập chờn như một con dơi lớn,
Như một oan hồn hiển hiện ra.

Tàu chạy hình như để chở buồn,
Chở người đi nhớ kẻ về thương
Nâng bao nhiêu gót chân xinh đẹp?
Tàu chạy đêm nay có lạc đường?

Tiếng máy vang như tiếng sấm rền,
Chuyến tàu này biết có ai quen?
Biết đâu chả có vài tên bạn,
Ở một ga nào vội vã lên.

Lừng lững tàu đi mất nửa rồi,
Sao không dừng lại ở ga tôi?
Lấy mươi lăm phút cho tôi gửi
Chút ít xuân xanh trả lại giời.

Mà mãi đêm nay mới nhớ ra
Đời mình chẳng khác chuyến tàu qua,
Nhưng từ ga lớn từ ga nhỏ.
Giời chẳng làm cho lấy một ga.

Tàu biết bây giờ chạy đến đâu?
Đêm sâu hoàn trả lại đêm sâu.
Bỏ đây một chiếc tàu kiêng đỗ
Chở một toa con nặng oán sầu.

Nhà ga

(Tặng Nhân Cư)

Cất lên theo kiểu nhà sàn,
Chung quanh quấn quít đôi dàn ti-gôn.
Tường vàng, mái đỏ màu son,
Nhà ga lại chứa linh hồn nhà ga.
Loanh quanh vẫn cụ xếp già,
Thủy chung bốn chuyến tàu qua mỗi ngày.
Có ông ký trẻ về đây,
Vợ con chưa có, suốt ngày ngâm thơ.
Cụ xếp có cô gái tơ,
Xuân xanh đã chín mà chưa lấy chồng.
Cụ xếp vẫn sống ung dung,
Để lau kính trắng ngồi trông bốn trời.
Xin rằng: hoa cứ việc rơi,
Xin rằng: tàu cứ ngược xuôi đúng giờ.
Để cho ông ký ngâm thơ
Cụ lau kính trắng, cô mơ chồng hiền
Lạy trời năm tháng bình yên,
Cụ xếp vẫn cứ ở nguyên ga này.
Tàu qua bốn chuyến mỗi ngày,
Sân ga vẫn cứ rụng đầy hoa tươi,
Thục nữ chưa kén được người
Ông ký quân tử vẫn ngồi ngâm thơ.
..

                                  Ga Kép, 1940

Hồng Diệu

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".