Ai chịu gù, cong, còng, cóng…?

Thiếp đang mắc nước xe lồng.
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu.
Thua thì thua quyết níu lấy con.

Về từ chịu, có thể nói đây là một trong những từ có nhiều hàm nghĩa, và dễ gây tranh cãi vì không phải ai cũng hiểu như ai; hoặc hiểu đúng theo ý của tác giả. Trong câu thơ của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, có phải, chàng kiêu hãnh bảo rằng, làm như vậy, đến như vậy là nàng đã chịu, đã hài lòng, đã ưng ý?; hay chàng xụi lơ ngay đơ cán cuốc thều thào mà rằng, đã đến nước này thì bó tay, chào thua, không còn có thể gắng sức, ráng sức thêm được nữa? “Thiếp rằng chẳng chịu” rõ là không đồng tình, không ưng ý, không chấp nhận lời đề nghị đó. Thế thì, cùng từ chịu nhưng hiểu rõ ý của nó không dễ.

Theo “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, chịu có đến 7 nghĩa: 1. Tiếp nhận cái không hay cho mình; 2. Tiếp nhận các tác động từ bên ngoài vào; 3. Nhận cho mình mà chưa trả được; 4. Thừa nhận cái mạnh người khác cũng như thừa nhận sự bất lực của mình; 5. Bằng lòng một cách ngượng ép; 6. Cố gắng làm việc nặng nhọc, khó khăn; 7. Vừa lòng, vừa ý. Về đại thể là vậy, nhưng tùy theo ngữ cảnh, có từ chịu chắc gì ta có thể hiểu dễ dàng theo kiểu “rập khuôn” này.

Xin thử nêu một vài thí dụ, để thấy từ chịu đã “chơi khăm” chúng ta ra làm sao. Chẳng hạn, khi được giao làm một việc gì đó, người này bảo: “Việc này, tớ chịu chết”. Vậy, chịu chết này có đồng nghĩa với chịu chết trong câu ca dao: “Dao phay kề cổ, máu đổ chẳng màng/ Chết thì chịu chết buông nàng không buông”? Chịu trong câu ca dao này, ta hiểu theo nghĩa 1 của từ điển là sẵn sàng chấp nhận chuyện tồi tệ, không hay dẫu có xảy ra thì mình cũng bất sá nhưng câu “Việc này, tớ chịu chết” lại là chịu thua, không thể làm được. Còn ở câu thơ của Hồ Xuân Hương, “chàng bảo chịu” hiểu theo nghĩa 4; “nàng chẳng chịu” hiểu theo nghĩa 7 nhưng lại phủ định là không hài lòng, không  vừa ý với lời thú nhận của chàng, dù cả hai đều xuất hiện từ “chịu”.

Với từ chịu này, ta hãy khảo sát trong câu thơ của Tú Xương. Rằng, ngày Tết, ông cao hứng viết câu đối dán vào cột nhà, tủm tỉm cười, nhìn vợ mà rằng: “Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?/ Rằng hay thì thực là hay/ Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài/ Xưa nay em vẫn chịu ngài”. Từ chịu này, có hàm nghĩa như chịu trong câu tục ngữ “Giàu út ăn, khó út chịu? Ta hiểu sau khi lo cho các anh chị, tài sản gì còn lại thì cha mẹ dành hết cho út, bấy giờ nếu nhà vẫn còn tài sản thì tốt, út hưởng trọn; bằng không, chẳng còn gì thì út phải chịu. Chịu ở đây là chấp nhận lấy sự việc hiển nhiên, đương nhiên này, chứ không thể, không còn cách nào khác. “Trời giục mặc trời, lão cứ chây/ Trời đành phải chịu lão bài bây” (Tú Mỡ) - dù không thích, không khoái, không chịu nhưng ông trời cũng phải đành chịu, bó tay trước kẻ cố ý kéo dài, dây dưa, không thèm làm theo, nghe theo. 

Trong một tình huống khác, lúc Thúc Sinh viết bài thơ “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” tặng Kiều và bảo họa lại. Nàng trả lời: “Lòng còn gửi đám mây Hàng/ Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay”. Thì, giữa “chịu chàng” của nàng Kiều và “chịu ngài” của bà Tú Xương có một cùng nghĩa?

Ai chịu gù, cong, còng, cóng…? -0
Ảnh: L.G

Trong “Truyện Kiều chú giải” (Ziên Hồng XB năm 1959), nhà nghiên cứu Văn Hòe cho rằng: “Chịu ở đây là chịu lại, chưa trả, khất đến sau sẽ trả (nợ)… Nhận được thơ người ta mà chưa họa vần được, tất phải khất đến khi khác và như thế tức là chịu người ta một bài thơ, chưa trả cũng như là chịu một món  nợ vậy” (tr. 282). Vậy, chịu ở đây là khất lại, hẹn lại vào dịp khác, cần phải có thời gian. Với Kiều, sở dĩ như thế vì trong lòng còn đang nhớ cha, nhớ mẹ “Lòng còn gửi đám mây Hàng” nên chưa có hứng làm thơ thù tạc đành phải chịu, là hiểu theo nghĩa 3. Tuy nhiên, tùy ngữ cảnh nếu chưa trả cái gì có tính chất thiên về vật chất, tiền bạc thì chịu tức là mắc nợ nhằm chỉ ai đó nhận trước, xài trước nhưng lại trả tiền sau như mua chịu, ăn chịu dẫn tới thiếu chịu, chẳng hạn, như tình huống trong câu ca dao: “Khoan khoan quần tía xuống màu/ Dây lưng mua chịu khoe giàu với ai?”.

Còn chịu ở câu thơ “Xưa nay em vẫn chịu ngài” là hiểu theo nghĩa nghĩa 7, là bà Tú khẳng định sự hài lòng, ưng ý, tâm phục khẩu phục. Thế nhưng, thiệt éo le cũng là chịu nhưng chắc gì hàm ý như kiểu như bà Tú dành cho chồng? Ta hãy xét câu thoại: “Cậu làm vậy, tớ chịu cậu”. Có thể hiểu là sự hài lòng, vừa ý, khâm phục, phục lăn chiêng đèn cù, khen ngợi nhưng tùy ngữ cảnh chịu này lại là bày tỏ sự thất vọng, không còn biết nói năng gì thêm nữa.

Từ cái sự chịu của nàng Kiều, ta liên tưởng đến thành ngữ “Chịu chày chịu cối” nhưng chịu này lại là khất lần khất lữa, cố tình dây dưa, kéo dài. Thiệt oái oăm, chịu có khi lại chấp nhận, đồng ý, tỷ như lúc Kiều tâm tình cùng Thúy Vân: “Cậy em, em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Chịu lời là nhận lời một cách tự nguyện. Đôi khi lời nói/ tiếng nói cũng được hiểu na ná, nhưng chịu lời/ chịu tiếng lại khác nhau. Chịu lời là do vì cái gì đó từ bên ngoài mà mình phải chịu như: “thị Mang bầu chịu tiếng phi/ Bầu không có rượu lấy gì mà say” (ca dao); còn chịu tiếng là mang tai mang tiếng, mắc phải lời chê bai nào đó, khó thanh minh thanh nga.

Trong khi đó cũng là chịu nhưng “Chịu đấm ăn xôi”, “Chịu đói còn hơn chói xương”, “Chịu dại chịu thua đừng đua với giải” - lại chỉ sự chấp nhận, chịu đựng một cách cố tình, cố ý có mục đích. Mục đích đó tốt hay xấu mới là câu chuyện đáng bàn. Chẳng hạn, thời buổi này có câu tuyên bố xanh rờn, thoáng nghe qua đã thấy sốc: “Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật” - câu nói ngụy biện trật cù chìa này về một quan niệm sống đã khiến không ít người choáng váng, ứ chịu! Thiên hạ đã phê phán, bình luận nhiều. Không nhắc lại. Ai cũng gù, vậy, mình cũng phải chịu gù theo? Tréo ngoe thiệt.

Ở đây, ta hiểu thế nào là gù? “Biến dạng lưng do cột sống lưng hoặc thắt lưng lồi ra phía sau quá mức” (Từ điển bách khoa Việt Nam); tuy nhiên, cần bổ sung thêm: “Lưng cong xuống hoặc nổi bướu” (Đại từ điển tiếng Việt). Và do cái lưng đó cong lại như hình dáng con tôm nên mới có khẩu ngữ “lưng tôm” tức cái lưng đó cong/ gù.

Cong có nhiều kiểu như cong queo/ cong quẹo/ cong quèo, cong như vỏ đỗ, cong veo, “Trời mưa nhà dột chảy re/ Lá tre hứng nước, ngọn tre cong vòng” (ca dao)… Thế, cong cớn là cong thế nào? Là từ nhằm chỉ người đàn bà có biểu hiện từ cử chỉ điệu bộ khiến ta thấy chua ngoa, đanh đá, chao chát. Cong còn có nhiều từ đồng âm, chẳng hạn, trong quan hệ tưởng rằng xuất phát từ tình cảm, yêu nhau chân thành cỡ như chỉ cần “một túp lều tranh, hai trái tim vàng” nhưng nào ai biết tỏng tim đen chỉ do “Chị tưởng anh có tiền đầy gác; anh tưởng chị có bạc đầy cong”, chứ yêu với đương cái quái gì. Từ cong này cũng như trong câu “Mặt tày lệnh, cổ tày cong”, ta hiểu ra làm sao?

Cong, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) giải thích: “Đồ đựng bằng sành cao và có hông”; tương tự, theo “Việt Nam tự điển” (1931): “Đồ bằng sành, hình như cái vò: Một cong nước”. Tuy nhiên, cái cong này người miền Nam còn gọi cóng, “Từ điển từ ngữ Nam Bộ” của Huỳnh Công Tín ghi nhận; và “Phương ngữ Nam Bộ” của Bùi Thành Kiên giải thích theo hai nghĩa: “1. Vật dụng hình trụ, bầu hông, có quai để đựng chất lỏng; 2. Lu khạp nhỏ bằng đất nung để đựng nước”. Sở dĩ, phải giải thích cặn kẽ, vì nếu khi đọc các thành ngữ này gặp từ cong/ cóng, nếu ta không hiểu bèn tra cứu trên… Goolge ắt bù trất, bó tay!

Cong, tùy trường hợp, có thể hiểu là cụp, chẳng hạn, với câu nói: “Cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi”, ta hiểu cong ở đây là cụp, tức cái đuôi hạ xuống và quắp vào. Mà cụp cũng hàm nghĩa như cúp, chẳng hạn, “cúp bình thiết” là cụm từ dùng để chỉ người già, yếu, lưng đã cong quặp xuống. Mà, lưng cong còn gọi là lưng còng, “Chồng còng lại lấy vợ còng/ Nằm chiếu thì chật, nằm nong thì vừa”.  Thế nhưng khi nghe câu đồng dao “Bà còng đi chợ trời mưa/ Cái tôm cái tép đi đưa bà còng” thì bà còng này chính là… con còng. Do ám chỉ con còng nên vế sau mới có con tôm, cái tép là vậy. Nay, có lẽ ít ai còn nhớ đến thành ngữ “Quân móc còng” nhằm chỉ “Những người không biết điều, quân quê mùa”, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) giải thích.

Trái nghĩa với cong/ còng là thẳng. Có nhiều kiểu thẳng như thẳng đuột, thẳng đuồn đuột, thẳng băng, thằng bong/ thẳng tắp, thẳng tuột… Nhưng không phải lúc nào người ta cũng dùng từ thẳng, tỷ như “Thằng còng làm cho thằng ngay ăn” - ngay trong ngữ cảnh này không phải ngay thẳng hiểu theo nghĩa thẳng thắn, chất phác, chân thật mà chính là “ngay lưng” - nhằm chỉ kẻ làm biếng chảy thây, không việc gì mó tay làm. Người làm lụng vất vả, đầu tắt mặt tối, bán lưng cho đất bán mặt cho trời mà thành quả đó, kẻ ngồi không lại hưởng ngon ơ bà ờ.

Éo le thiệt,

Dù ngay cũng hiểu là thẳng nhưng “thẳng lưng” lại khác với “ngay lưng” ở chỗ: hiểu theo nghĩa bóng “thẳng lưng” là chỉ sự ngay thẳng, chính trực biết phân biệt chính tà, phải trái chứ không hùa theo đám đông, gió chiều nào theo chiều đó mà có chính kiến rõ ràng, cứ theo lẽ phải mà làm. Sự chọn lựa tích cực còn thể hiện qua câu “Cây ngay không sợ chết đứng”. Phải thế chứ, thiên hạ chỉ nể trọng những ai dám “thẳng lưng”, chứ nào phải biện minh kỳ quặc: “Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật".

Mà, gù cũng có từ đồng âm, chẳng ai đó nói: “Xem kìa, chim trống gù chim mái”, thì gù này là động từ nhằm chỉ tiếng kêu trầm, dài để tán tỉnh, quyến rũ. Từ đây, gù đồng nghĩa với o, gò, ve… mà phái nam dùng tán tỉnh, thả thính phái nữ. Như ta đã biết, một khi cái bướu nổi trên lưng thì gọi gù nhưng nổi trên cổ, trên tay lại gọi là u, chẳng hạn, “Vai u thịt bắp”. Với từ u này, khi quan sát con bò, nhìn thấy khối u đó trên cổ, có người đã ứng tác câu vè cực kỳ ba trợn cà rỡn, vui thôi, đừng bắt bẻ gì: “Con bò có một cái u/ Đàn ông sợ vợ thì ngu hơn bò”. Ai tán thành thì mặc, chứ những ai vốn “anh hùng râu quặp” như tôi đây, do đã biết thân biết phận nào dám ho he gì.

Đã không dám ho he gì, vậy, ta hãy quay lại bàn thêm về từ “chịu” cho thiện lành. Rằng, đọc lại ca dao Nam Bộ có những câu liên quan đến chịu nhưng chưa chắc ta đã rõ nghĩa, chẳng hạn, “Cắn răng bóp bụng chịu đần/ Dầm sương phản mại tảo tần đợi anh”. Trước hết, xin giải thích “phản mại” là tiếng lóng ở trong Nam hiểu theo nghĩa mua đi bán lại. Còn chịu đần là gì? Là cam chịu bị hành hạ, bị người khác làm cho khổ sở - “Đại Nam quấc âm tự vị” giải thích.

Không những thế, còn có chịu đèn là lấy từ hình ảnh con vật trố mắt nhìn thấy đèn rọi của thợ săn, đứng yên, không chạy, thợ săn dễ dàng ra tay bắt lấy. Về sau, nó trở thành tiếng lóng ám chỉ sự đồng thuận, xiêu lòng của người khác phái mà bấy lâu nay mình tán tỉnh, ve vãn… Tuy nhiên, chịu đèn còn dùng để nói kẻ nào đó bấy lâu ứ chịu nhưng nay đã chịu há mồm ra đớp của đút lót rồi lo việc gì đó cho mình, trường hợp này còn cụm từ tương đương mỉa mai hơn là chịu mồi, nói cách khác chính là “cá đã cắn câu”.

Thế đấy. Thế mới thấy từ chịu “lôi thôi” quá đi thôi. Tuy nhiên, với các cách giải thích này về từ chịu, nghe chịu quá đi chứ, phải không bạn ơi? Lập tức nghe câu khen: “Xưa nay em vẫn chịu ngài”, tôi đây liền mát lòng, hả dạ và chịu ngay tắp tự.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?

Rừng hoa xuân tuyết bay

Rừng hoa xuân tuyết bay

Nếu tính chặng đường đi tiếp của chúng tôi từ phường Tuyên Quang tới hồ thủy điện Na Hang chừng 100 cây số. Ấy là chưa nói, đoàn còn lên vùng núi cao Hồng Thái cũng phải tròm trèm 50 cây số nữa. Nghe vậy mọi người lắc đầu ngao ngán. Nhưng ai đó chợt kể, ở một bản Dao trên núi có tục gái mua trai về làm chồng. Rồi họ còn tổ chức trò chơi dù bay trên mây nữa chứ. Mọi người phấn chấn hẳn. Lập tức chuyến xe lại rùng rùng hú còi lên đường.