Yến Lan, ngui ngút sông Trăng

Vào một buổi xế trưa cuối năm 1995, vợ chồng tôi có việc về An Nhơn, ghé rủ anh Đặng Tấn Tới thăm nhà thơ Yến Lan. Nhà ông ở thị trấn Bình Định, đường Quang Trung, phía đối diện và hơi chếch cổng trước chợ Bình Định.

Hôm ấy đúng phiên nên dù chợ đã vãn, trước cổng chợ vẫn còn những chuyến xe ngựa đang chất hàng. Mùi nước đường, mùi cỏ, mùi mồ hôi ngựa quyện lẫn với mùi than, củi, măng chua, cá hấp, mắm, muối... tạo thành một hỗn hợp đặc trưng khó tả. Chúng tôi ngồi ở khoảng hiên hẹp, bốn chiếc ghế đẩu thấp, bốn cái quạt lá, vừa phất để xua bớt cái nóng và mùi chợ, vừa trò chuyện.

Dường như những năm tháng ấy, thơ và những gì liên quan đến thơ hãy còn là chỗ nương tựa cho tâm hồn. Thơ đã quý, được tiếp chuyện với một nhà thơ nổi tiếng càng quý hơn. Mỗi lần chúng tôi gặp ông, những câu chuyện liên quan đến nhóm thơ Bàn Thành tứ hữu và Trường thơ Loạn thường được hâm lại, ông không nhắc thì cũng có người gợi để ông kể.

Chủ và khách tái dựng không gian thành Bình Định thời tiền chiến, một không gian rất ít ồn ào, nhiều sương khói, mông lung trăng và da diết còi tàu. Ít ai ngờ là cái thị trấn nhỏ và có phần bình lặng đó lại là một thi đình, hội tụ những gương mặt thi sĩ tài hoa đã đi vào văn học sử nước nhà: Yến Lan, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên - bốn ngôi sao của Thơ Mới, bốn người bạn ở đất Đồ Bàn mà người đương thời vẫn mệnh danh là Bàn Thành tứ hữu.

Nhà thơ Yến Lan (1916-1998).
Nhà thơ Yến Lan (1916-1998).

Những người từng tìm hiểu về thơ Bình Định trước năm 1945 hẳn không xa lạ với ba chữ “lầu tư tưởng”. Đó là cái tên đẫm mùi triết học mà hai thiếu niên Lâm Thanh Lang - Phan Ngọc Hoan (tức Yến Lan và Chế Lan Viên) gán cho gian gác trên cửa Đông thành Bình Định.

Chiều chiều, sau cuốc đá banh, hai chàng thiếu niên quần đùi, tay áo cột cổ hất vai theo kiểu lữ hiệp, trèo lên đấy ngắm hoàng hôn phía Tây và tháp Chàm phía Đông Nam, đọc cho nhau nghe những câu thơ tràn ngập bóng trăng, bóng ma đầy ám ảnh.

Thành Bình Định xưa mang tầng tầng trầm tích bởi duyên phận của một vùng đất từng giữ vị thế đặc biệt: kinh đô Đồ Bàn của vương quốc Chiêm Thành từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 13, kinh thành Hoàng Đế của vương triều Tây Sơn Nguyễn Nhạc thế kỷ 18; trung tâm Cần Vương chống Pháp vùng Nam Trung Bộ; một trong những trung tâm kháng thuế Trung kỳ đầu thế kỷ 20...

Với ngần ấy bể dâu luân chuyển, phận người bị nhồi xóc va đập qua bao làn sóng lịch sử bi tráng. Không phải ngẫu nhiên mà cảm thức lịch sử và thân phận chiếm vị trí quan trọng trong sáng tác của những người sinh trưởng hoặc sinh sống ở Bình Định.

“Lầu tư tưởng” được Yến Lan nhắc trong buổi hàn huyên với chúng tôi tràn ngập những hồi ức in bóng Chế Lan Viên, người bạn thiếu thời. Hôm nào cũng vậy, chiều muộn từ sông về, ông thường rủ Hoan (Chế Lan Viên) lên lầu tư tưởng rất lâu, ngoài lý do để tâm sự, chia sẻ bài vở, còn có một lý do tế nhị là để tránh ngồi chung bữa cơm chiều với người mẹ kế lạnh lùng.

Nhà Chế Lan Viên gần sát cổng thành, có thể chạy vèo về ăn cơm rồi cầm cuốn vở chạy lên "lầu" ngồi tiếp với bạn. Yến Lan bảo nơi ấy quả là một bầu thế giới, chỉ có hai thằng với không gian tịch mịch, tha hồ học bài, đọc thơ và đàm luận tự nhiên, khỏi bị ai phát hiện làm mất hứng, và nhất là khỏi bị coi là... khùng. Sau này, khi quen biết Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, lầu thành nơi tụ họp bàn luận văn chương thế sự của nhóm Bàn Thành tứ hữu.

Hồi đó, từ lầu tư tưởng trông về phía Nam, cách một dải đồng trống là sông Trường Thi xanh biếc. Quãng sông cong như bờ mi thiếu nữ đi vào thơ ông với cái tên Bến My Lăng huyền hoặc, lênh láng trăng và lênh láng u hoài. Nơi đó là quê ngoại của nhà thơ:

Quê ngoại bên kia bãi cát vàng
Mẹ tôi về trễ chuyến đò ngang
Cơn đau trở dạ không giường chiếu
Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng
.

(Thơ Yến Lan)

Với Yến Lan, sông Trường Thi là sông Mẹ, gắn với tuổi thơ ông, từ lúc cất tiếng khóc chào đời, những giấc ngủ thần tiên trong ngọn gió dịu lành hơi nước, cho đến nỗi tủi cực đằng đẵng của cậu bé đơn côi nhờ sông lặng lẽ sẻ chia.

Sau khi mẹ Yến Lan mất, người cha lấy vợ khác, cố duy trì nghề thợ may một thời gian nhưng khách hàng quen bỏ đi dần, thu nhập không đủ sống, bèn xin chân ông từ lo việc dầu đèn ở chùa Ông, rồi bán nhà đem cả gia đình tới tá túc gian nhà nhỏ dưới bóng cây thị cổ thụ sau chùa.

Mỗi mùa thị chín, cậu bé Lâm Thanh Lang được mẹ kế giao hái xếp vào rổ, đội ra chợ bán. Năm nào thị sai quả, tiền bán thị được trích ra một phần nhỏ cho ông may áo mới: "Trái ra chợ bán lành thân áo/ Ơn thị thay phần mẹ dưỡng nuôi".

Chỉ có một bộ đồ, cậu bé Lâm Thanh Lang buổi sáng đi học, xế trưa ra sông giặt phơi trên bãi cát, ngâm mình chờ khô quần áo rồi mới lên bờ. Dễ hiểu vì sao câu chuyện Chử Đồng Tử đã lấy của cậu bé những giọt nước mắt âm thầm. Bóng mát ân huệ của cây thị chùa Ông ngày đêm an ủi tuổi thơ thiếu thốn của Yến Lan. Những đêm mưa dột chỗ nằm, cậu bé co người trong khoảng khô ráo bé nhỏ ngủ ngon lành, tin rằng ngoài sân cây thị đang rướn cành che chở:

Đêm mưa tí tách nhà tranh dột
Thị nới mình che nửa mái ngoài
Mở cửa nghe chim run tiếng hót
Mới hay cây lạnh suốt đêm dài.

                   (Thơ Yến Lan)

Chính vì giữa cây ấy - người ấy là mối tương tri sâu nặng, nên sau năm 1975, từ miền Bắc trở về, Yến Lan hối hả chạy tới chùa Ông thăm cây thị, nhưng chùa đã bị phá để xây trụ sở Ủy ban, cây thị cổ thụ cũng không còn.

Đó không phải là lần đầu tôi được nghe Yến Lan kể về tuổi thơ ngui ngút của chính ông, nhưng là lần đầu tôi thấy đôi mắt của lão thi sĩ tám mươi bùi ngùi rớm lệ.

Ngày giỗ ông gần Tết Trung thu. Vì sao ông chọn mùa thu để về cõi vĩnh hằng? Phải chăng mùa thu cũng là mùa thị, mùa duy nhất trong năm Yến Lan được may áo mới. Đi ngang Trường Tiểu học Bình Định, thấy học trò mặc áo mới đến trường, tôi chợt nghe phảng phất hương thị chín.

Ông có về không, Người thơ hiền hòa của Bến My Lăng?

Trần Thị Huyền Trang

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.