Xuân về, nhớ nhạc sĩ Thanh Sơn

Cứ mỗi dịp Tết đến, Xuân về là khắp nơi lại vang lên ca khúc “Đoản xuân ca”, “Xuân đẹp làm sao”, “Ngày xuân tái ngộ”, “Chúc xuân”, “Mùa xuân bên nhau”…của cố nhạc sĩ Thanh Sơn. Đây là những nhạc phẩm để đời, được nhiều người nhớ đến.

Sinh thời, nhạc sĩ Thanh Sơn tâm sự: “Mùa xuân rất đặc biệt, nó luôn mang lại cho tôi những cảm giác thật lạ, vừa bồi hồi, rộn rã, vừa phấn chấn, xốn xang”.  Những bài hát viết về mùa xuân của nhạc sĩ Thanh Sơn luôn gắn liền với tên tuổi của nhiều ca sĩ nổi tiếng ở dòng nhạc trữ tình, quê hương. Gần nửa thế kỷ trôi qua, từ khi các ca khúc nhạc xuân của Thanh Sơn được biết đến nhiều qua những giọng ca ngọt ngào của làng nhạc Việt như: Hương Lan, Bích Phượng, Quang Linh, Cẩm Ly, Đông Đào …, rồi đến Trung Hậu, Hương Thủy, Đông Quân, Thùy Trang, Quốc Đại. Đây là điều minh chứng cho sự trường tồn của những ca khúc đặc sắc này.

Về mặt số lượng, các tác phẩm thuộc chủ đề mùa xuân của ông không nhiều, nhưng hầu hết các bản nhạc hiếm hoi ấy lại gây được ấn tượng sâu sắc trong lòng công chúng yêu âm nhạc hằng mấy thập niên qua.

Cố nhạc sĩ Thanh Sơn.
Cố nhạc sĩ Thanh Sơn.

Trong suốt cuộc đời âm nhạc, ông đã sáng tác khoảng 500 ca khúc được người trong giới và công chúng hưởng ứng nhiệt tình. Lời ca mộc mạc, giản dị nhưng thấm đẫm tình yêu của một người con xa quê luôn đau đáu nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn. Ông đã đi đến tận cùng của những cảm xúc để chắt chiu thành những giai điệu mượt mà, những lời ca ngọt ngào, chứa chan tình yêu quê hương, dân tộc.

Sinh năm 1938, trong một gia đình có tới 12 người con ở Sóc Trăng, cậu bé Lê Văn Thiện (tên thật của cố nhạc sĩ Thanh Sơn) từ nhỏ đã say mê văn nghệ. Những năm học tiểu học, ông được nhạc sĩ Võ Đức Phấn (em út của nhạc sĩ Võ Đức Thu nổi tiếng dạy nhạc ở Sài Gòn những năm 1950 -1960 của thế kỷ 20) nhận làm học trò. Năm 1955, thầy Phấn qua đời, ông bắt đầu lên Sài Gòn và theo học lớp nhạc của nhạc sĩ Lê Thương. Công việc của ông lúc bấy giờ là chép và kẻ khung nhạc.

Năm 1959, Lê Văn Thiện đánh bạo ghi tên tham dự cuộc thi hát do một Đài Phát thanh ở Sài Gòn thời bấy giờ tổ chức. Không ngờ, ông đoạt giải Nhất với tác phẩm “Chiều tàn” của nhạc sĩ Lam Phương. Sau giải thưởng ấy, tên tuổi Thanh Sơn ngày càng được công chúng biết đến qua những chương trình ca nhạc trên làn sóng phát thanh. Từ đó, ông có cơ hội tiếp xúc với nhiều nhạc sĩ gạo cội để rồi trong ông bắt đầu nhen nhóm ý định sáng tác ca khúc.

Năm 1962, tác phẩm đầu tay có tên gọi “Tình học sinh” của nhạc sĩ Thanh Sơn ra đời. Một năm sau, ông trình làng ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng” viết về mối tình đầu đời của ông, đã trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng nhất viết về tuổi học trò thời bấy giờ. Sau đó, cố nhạc sĩ Thanh Sơn liên tiếp thành công với những nhạc phẩm viết về đề tài học sinh như: “Ba tháng tạ từ”, “Màu áo hoa phượng”, “Lưu bút ngày xanh”, “Phượng buồn”, “Ve sầu mùa phượng”.v.v.… Những ca khúc này được nhiều tầng lớp khán giả đón nhận.

Nhạc sĩ Thanh Sơn thời trẻ.
Nhạc sĩ Thanh Sơn thời trẻ.

Nhạc sĩ Thanh Sơn từng chia sẻ: “Tôi đến với sáng tác âm nhạc bằng niềm đam mê chân thật. Mặc dù bản thân tự tìm hiểu, nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm từ thế hệ nhạc sĩ đàn anh nhưng may mắn của tôi là ngay từ những sáng tác đầu tiên đã có chỗ đứng nhất định trong lòng công chúng. Đây là động lực cổ vũ tôi tiếp tục sáng tác, dâng lời ca tiếng hát cho đời”.

Sau thành công với những nhạc phẩm viết về lứa tuổi học trò, nhận thấy điệu nhạc Bolero dễ gây xúc cảm cho người thưởng thức, nhạc sĩ Thanh Sơn sáng tác nhiều tác phẩm để đời ở thể loại này như các ca khúc: “Nhật ký đời tôi”, “Trả lại thời gian”… với giai điệu thật giản dị, hình ảnh gợi cảm, ngôn từ chọn lọc, rất đỗi trữ tình, lãng mạn. Kể từ năm 1973, nhận thấy dân ca Nam Bộ rất gần gũi với đời sống người lao động, dễ lan tỏa trong lòng người nghe, nhạc sĩ Thanh Sơn đã chuyển hướng sáng tác sang đề tài quê hương. Ca khúc đầu tiên ông viết về thể loại này là “Bài ngợi ca quê hương”.

Gần 1/2 là những ca khúc của ông viết về quê hương, về con người của miền châu thổ Sông Tiền -  Sông Hậu. Có lẽ vì là người con của làng quê Nam Bộ và nhờ sự yêu thích giai điệu “ngũ cung lòng bản” (Hò, Xự, Xang, Xê, Cống) của âm nhạc tài tử và sân khấu cải lương, nên nhạc sĩ Thanh Sơn đã có được những chất liệu quý để phục vụ cho công việc sáng tác. Và cứ thế, những khúc hát quê hương tươi sáng, trong trẻo của người nhạc sĩ thân thiện này lần lượt ra đời. Chính sự trải nghiệm từ đời sống thật và sự thẩm thấu của những câu Hò, điệu Lý vùng sông nước Cửu Long đã nuôi dưỡng tâm hồn, tạo cho ông nguồn cảm hứng vô tận để viết nên khúc hát quê hương rất hay và ấn tượng.

Nhạc sĩ Thanh Sơn với ca sĩ Hương Lan.
Nhạc sĩ Thanh Sơn với ca sĩ Hương Lan.

Những ca khúc như: “Hành trình trên đất phù sa”, “Gợi nhớ quê hương”, “Hình bóng quê nhà”, “Hương tóc mạ non”, “Hành trình trên đất phù sa”… dù chỉ nghe qua một lần là ta có thể nhẩm hát theo vì giai điệu và ca từ của nó dễ thuộc, dễ đi vào lòng người.

Âm nhạc là sự phản ánh chân thực về chân dung của nhạc sĩ Thanh Sơn. Khi còn tại thế ông thường tâm sự với bạn bè: “Chắc vì một phần tính cách của con người tôi giản dị, hào sảng nên nhạc phẩm của tôi cũng nhẹ nhàng, tinh giản chứ không cao sang, toàn bích. Nó gần gũi với quần chúng, phản ánh đượcđời sống tinh thần của người nông dân. Làm được điều đó là tôi đã thành công rồi”.

Mỗi một ca khúc mà ông sáng tác đều gắn liền với những kỷ niệm khó phai. Ngay cả nghệ danh Thanh Sơn của ông cũng bắt nguồn từ một câu chuyện có thật. Hồi nhỏ, ông có một người bạn gái rất thân tên là Thanh, nhưng không may người bạn này mất sớm. Khi gắn bó với âm nhạc, ông đã dùng tên Thanh của cô bạn gái ấy để ghép với tên Sơn của mình thành nghệ danh Thanh Sơn như một sự khắc ghi kỷ niệm.

Nhạc sĩ Tiến Luân cảm nhận: “Những gì anh Thanh Sơn viết là đời sống thật bởi tuổi thơ của anh từng cấy lúa, tắm sông, hái dừa, chèo thuyền… Anh lại đi nhiều nơi nên đã thấy, đã hiểu và đã cảm được nhiều chứ không ngồi một chỗ tưởng tượng ra, cho nên các ca khúc do anh sáng tác không giả tạo, từ đó không dễ quên với nhiều người nghe. Bằng chứng là có những câu hát của anh như: “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn”… hay “Nghe xuân sang thấy trong lòng thêm chứa chan… đã trở thành những thành ngữ trong cuộc sống”.

Phạm Thái Bình

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.