Vua Hàm Nghi những bí ẩn mới hé lộ

Vua Hàm Nghi (1871-1944), vị vua anh hùng, linh hồn của phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX, bị thực dân Pháp lưu đày sang Algérie. Mới đây, những bí ẩn về cuộc đời ông mới được hé lộ.

Tam quan phủ Kiên Thái Vương mới được tu bổ, vừa bề thế vừa cổ kính soi bóng xuống dòng sông An Cựu, sát bên cạnh là cung An Định tấp nập du khách… tạo nên một khung cảnh rất Huế, đài các và thanh bình. Nơi đây thờ Kiên Thái Vương và 3 người con Đồng Khánh, Kiến Phúc, Hàm Nghi, cùng cháu, chắt là Khải Định, Bảo Đại, đều từng là Hoàng đế.

Rất ít người biết về lịch sử Vua Hàm Nghi, nhất là suốt 56 năm xa Tổ quốc… May sao, một hậu duệ của Vua Hàm Nghi là Amandine Dabat đã nghiên cứu và hoàn thành luận án Tiến sĩ về ông và xuất bản cuốn “Hàm Nghi - Hoàng đế lưu vong, nghệ sĩ ở Alger”. Cuối năm 2024, bản tiếng Việt của công trình đã ra mắt bạn đọc. Nghiên cứu dựa trên 2.500 lá thư, bản nháp và giấy tờ cá nhân của nhà vua, với góc nhìn khách quan và những nhận xét, đánh giá thuyết phục, đáng tin cậy.

Hoàng tử bí ẩn

Khi Vua Hàm Nghi rút lên vùng núi Quảng Trị (1885) để chống Pháp, thân mẫu ông là Phan Thị Nhàn đang bị ốm, nên không thể đi cùng. Thái hoàng Thái hậu Từ Dụ đã giao phó Hoàng đế cho một trong những người hầu gái của bà là Phan Thị Hòa (1867-1936) con gái của Thượng thư Phan Đình Bình, em ruột của bà Phan Thị Điều, chính thất của Vua Dục Đức. Ngày 10/5/1888, trong một bức thư, viên chỉ huy Boulangier có viết “Con gái nhỏ của Phan Đình Bình được gả cho Hàm Nghi”.

untitled-2.jpg -0
Chân dung tự họa của Vua Hàm Nghi, năm 1896 - Ảnh tư liệu.

Khi Vua Hàm Nghi bị bắt, bà Phan Thị Hòa đã có thai, được đưa ra Bắc để lánh nạn. Bà sinh con trai là Bửu Trắc (1889-1966) tại Nam Định. Sau đó Bửu Trắc được đưa về nuôi dưỡng ở Quý Hương, Thanh Hóa, rồi Vua Khải Định cho đón ông về Huế để được ăn học. Không có tài liệu nào cho thấy Vua Hàm Nghi biết đến sự tồn tại của người con trai này.

Do phải mai danh ẩn tích nên ông Bửu Trắc lưu lạc sang Campuchia năm 1927, với tên họ khác là Duy Thịnh, con nuôi của ông Nguyễn Duy Sắc, ngự y của Vua Hàm Nghi trong phong trào Cần Vương. Với sự giới thiệu của một quan chức cấp cao người Pháp tại Campuchia, ông vào làm việc cho Công ty Descours et Cabaud của Pháp tại Phnom Penh, với chức vụ là Giám đốc tài chánh. Ông sống ở Phnom Penh đến cuối đời. Ông có ba người con, một con trai, hai con gái nhưng người con trai mất sớm, chỉ còn lại bà Nguyễn Thị Thìn và bà Nguyễn Thị Tuất.

Ở Alger, sau 15 năm lưu đày, Vua Hàm Nghi kết hôn với tiểu thư Marcelle Laloa, con gái ông Francis Laloa, một thẩm phán Pháp, là Chánh án Tòa án Alger. Ông bà lần lượt sinh ba người con là Như Mai (1905), Như Lý (1908) và Minh Đức (1910). Các con của Hàm Nghi được nuôi dạy theo Công giáo. Trong một cuốn sổ ghi chép, Thân Vương than phiền việc ông muốn dạy các con tiếng Việt nhưng Vương phi cấm và o bế các con không cho chúng gần gũi cha. Sau này, chính Minh Đức cũng chỉ trích gay gắt cách giáo dục độc đoán của mẹ.

Như Mai tốt nghiệp Thủ khoa Viện Nông học quốc gia năm 1927. Bà không kết hôn. Như Lý học đại học Alger. Năm 1933, bà kết hôn với một tử tước ở Pháp, là con của một người bạn Vua Hàm Nghi. Minh Đức gia nhập Học viện Quân sự đặc biệt Saint Cyr, ông kết thúc binh nghiệp với hàm thiếu tá, kết hôn với con gái một gia đình sản xuất và kinh doanh vải.

Có đến 300 bức thư Vua Hàm Nghi viết cho các con với những tình cảm thân thương, âu yếm. Ông thường viết: “Các con bé bỏng của cha”, “Như Mai yêu quý của cha”, “Như Mai bé bỏng, yêu quý của cha” và ký là Papa hoặc Tử Xuân bằng chữ Hán.

“Mối tình cuồng dại”

Cuộc sống hôn nhân của Hàm Nghi với Marcelle Laloa có vẻ không hạnh phúc. Cuối cùng, năm 1918, một tình yêu đích thực cũng đến với ông, người tình là Gabrielle Cakpek, cô giáo dạy phụ đạo cho các con ông. Gabrielle Cakpek (1888-1980) vốn là trẻ mồ côi có cha mẹ gốc Sec định cư tại Alger. Cô và em trai được một nữ giáo sĩ nuôi dưỡng.

vua hn va vc.jpg -1
Nơi thờ Vua Hàm Nghi và vợ con, dưới bài vị vua là chân dung bà Phan Thị Hòa và con trai là ông Bửu Trắc.

37 bức thư gửi cho người tình, cũng là người mẫu của ông, cho thấy Hàm Nghi đã có một tình yêu nồng nàn, say đắm. Ông thường mở đầu các bức thư bằng dòng chữ “Em thân yêu”, “Tình yêu của tôi”, “Em yêu dấu”. Trong một bức thư ông viết: “Hôn em cuồng nhiệt… Tôi không nhớ đã nói với em về những nữ hoàng sắc đẹp chưa… Dĩ nhiên có bao nhiêu người chen lấn, đổ xô vào xem. Mọi người ngạc nhiên vì tôi chẳng nhúc nhích gì hay ngây ngất chiêm ngưỡng như họ. Họ không biết rằng tôi đã có người đẹp hơn mọi nữ hoàng nhan sắc rồi… Tôi đã có người lý tưởng cho mình. Người lý tưởng của tôi chỉ dành cho riêng tôi, và những kẻ phàm phu thì không được biết… 21h, đến giờ rồi, em thân yêu, bậc hiền triết sẽ nghỉ ngơi. Tôi cũng thế, tôi cũng đi ngủ, nhưng trước đó phải nói với em lời chào buổi tối và hôn em cuồng nhiệt nhưng rất đỗi dịu dàng”.

Amandin Dabat gọi đó là “mối tình cuồng dại” với nhận xét: “Trong những bức thư gửi cho người tình, Hàm Nghi thể hiện sự nhạy cảm và các cảm xúc của ông. Những lá thư này mang đến cho nhân vật một chiều kích rất con người”. Chị của Vương phi Marcelle Laloa từng nói: “Tôi hiểu sự gắn bó mà Thân vương dành cho tiểu thư, bởi trong số tất cả chúng tôi, cô ấy là người duy nhất hợp với tính khí ông ấy: cô ấy hiền dịu mà ông ấy yêu sự dịu dàng. Mà em gái tôi lại là một người quyết liệt”.

Ngày 29/10/1922, một bé trai ra đời, đặt tên là Jean Capek. Trong quá trình nuôi con, Hàm Nghi nhiều lần gửi tiền nhưng Gabrielle Capek nhất quyết từ chối khiến ông rất lo lắng, cho đến khi bà mở một cửa hàng nội thất để có thêm thu nhập. Cuối cùng ông cũng bắt bà phải nhận khoản tiền 15.000 franc cho con trai họ. Sau này bà kể lại cho con: “Mẹ không muốn từ chối bởi điều này có thể khiến ông ấy tức giận, nhưng đó là lần duy nhất chúng ta có thể nhận thứ gì đó”.

Gabrielle giữ quan hệ rất tốt với gia đình Thân vương, thường tháp tùng ông vào thành phố mua đồ. Từ tháng 11/1943, Thân vương không thể ra ngoài được nữa nên Vương phi cho phép Gabrielle được đến bên ông để chăm sóc, ít nhất hai ngày một lần cho đến khi ông qua đời.

Như vậy, Vua Hàm Nghi có ba hoàng tử là Bửu Trắc (1889-1966), Minh Đức (1910-1990), Jean Capek (1922-1982) và hai hoàng nữ Như Mai (1905-1999), Như Lý (1908-2005). Khi xây dựng Nguyễn Phúc tộc thế phả, năm 1995 hội đồng biên soạn cũng chỉ biết có hai Hoàng nữ Như Mai, Như Lý và Hoàng tử Minh Đức.

Phúc trùng lai

Trò chuyện với ông Hoàng Trọng Đính, thủ từ phủ Kiên Thái Vương và ông Tôn Thất Giáp - người bạn ở Huế, chúng tôi mới hay, phủ Kiên Thái Vương vốn là nhà rường 7 gian truyền thống, đục chạm đẹp mắt nhưng bị hư hại nặng nề trong năm 1947. Phủ hiện nay là công trình được xây dựng lại vài năm sau đó, nhỏ hơn, đơn giản hơn phủ cũ.

Sau 70 năm dầu dãi nắng mưa và biết bao biến động của thời cuộc, con cháu trực hệ thì sống xa Tổ quốc nên phủ ngày một xuống cấp. Cổng phủ long lở, chữ nghĩa bong tróc, khung cảnh lụi tàn, nhìn thật xót xa mà không có cách nào cứu chữa. Nhưng rồi “ơn liệt thánh phù hộ”, chính lúc khó khăn nhất thì TS Kinh tế Đặng Văn Giáp và ông Đặng Văn Luyện định cư tại Canada và Mỹ, là cháu ngoại của Hoàng tử Bửu Trắc, con của bà Nguyễn Thị Tuất trở về. Sau khi làm rõ được mối quan hệ huyết thống, thấy tình cảnh xuống cấp trầm trọng của phủ, ông Giáp và ông Luyện đã đầu tư số tiền lớn để đại trùng tu, nên phủ mới khang trang, đẹp đẽ từ trong đến ngoài như hiện nay.

Trong phòng thờ dành riêng cho gia đình cựu hoàng Hàm Nghi mới được xây dựng, chúng tôi thấy có bức biển đá “Hân Vinh từ đường”. Trong khám thờ có bài vị cựu hoàng, phía dưới bài vị là chân dung bà Phan Thị Hòa, một thân phận đặc biệt có gương mặt sáng ngời và chân dung ông Bửu Trắc. Sau biết bao tang thương, ly loạn, bây giờ gia đình nhà vua mới được đoàn tụ nơi cố hương nhạt nhòa hương khói.

Phúc trùng lai - cùng với tin vui di tích được trùng tu thì Tiến sĩ Amandine Dabat là hậu duệ đời thứ năm, chắt của hoàng nữ Như Lý đã công bố công trình nghiên cứu về Vua Hàm Nghi. Cuộc đời trong những năm tháng lưu đày, vượt lên số phận của Vua Hàm Nghi - nhân vật lịch sử có số phận phi thường, đã được nghiên cứu, phân tích một cách sâu sắc, với những nhận xét tinh tế, khách quan.

Quý quý thân kỳ nghĩa nhất dã
Nguyên nguyên bản bản hà nhật vong chi

Tạm hiểu là: Nội nội ngoại ngoại, chung một nghĩa vậy/ Nguồn nguồn gốc gốc, chẳng ngày nào quên.

Ngoái lại nhìn cổng phủ Kiên Thái Vương, thấy trên vọng lâu có đôi câu đối này, sao mà hợp với cảnh với tình hôm nay đến thế, chắt ngoại của Vua Hàm Nghi không hẹn mà đã cùng nhau trở về làm sáng lại sự nghiệp tổ tiên…

Nguyễn Phan Khiêm

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.