Ba tuần rồi tôi vẫn chưa nộp được đề cương cho số đặc biệt cuối năm. Tôi làm biên tập nội dung cho một chương trình âm nhạc phát trên nền tảng số, công việc hằng ngày là đọc hàng chục đề xuất tiết mục gửi về, phần lớn là cover nhạc thị trường, thỉnh thoảng mới có một tiết mục nhạc cụ dân tộc chen vào cho có màu sắc rồi thôi. Có lần tôi đề xuất làm hẳn một số riêng về nhạc cụ dân tộc, sếp gật đầu ngay, bảo ý hay, làm đi. Tôi hào hứng được vài hôm rồi loay hoay mãi không ra được cái kịch bản hoàn chỉnh, toàn những thứ đã thấy nhàm, nào là phỏng vấn nghệ nhân, chèn hình ảnh núi rừng rồi nhạc nền hoài niệm,… Viết ra dòng nào cũng thấy nhạt, tôi xóa hết, mở lại file trắng, tự nhủ để hôm nào rảnh nghĩ tiếp. Hôm nào rảnh cứ lùi từ tuần này sang tuần khác, đến lúc sếp nhắc tôi mới giật mình nhớ ra nó vẫn còn nằm y nguyên trong ổ đĩa, chưa thêm được chữ nào.
Đồng nghiệp ngồi bàn bên thấy tôi cứ mở ra đóng vào cái file mãi thì hỏi có cần đổi đề tài không, làm cái gì dễ hơn cho xong số này rồi tính tiếp. Tôi lắc đầu, bảo để thêm ít hôm nữa xem sao, trong bụng cũng không chắc thêm ít hôm nữa thì khác được gì. Màn hình vẫn sáng trắng, con trỏ nhấp nháy ở đúng dòng đầu tiên tôi gõ từ ba tuần trước rồi xóa đi ngay hôm đó.
Giữa lúc đang bí như vậy thì điện thoại tôi rung lên giữa giờ làm, số của cô.
- Bác Nhung mất rồi con.
Tôi khựng lại vài giây mới nhớ ra bác Nhung là ai. Một người họ hàng xa bên ngoại, nhà ở Thái Nguyên, cả năm chắc gia đình tôi chỉ nhắc tên đúng một, hai lần.
- Bao giờ nhà mình lên vậy cô?
- Mẹ con bận, cô cũng đang kẹt việc. Con xem đi được không, dù gì cũng phải có người đại diện, không người ta trách.
Tôi nhận lời mà trong bụng không mấy hào hứng. Đề cương còn dở, sếp nhắc hai lần rồi. Nghĩ đi nghĩ lại cũng chẳng có lý do gì để từ chối một đám tang người thân, đành xin nghỉ hai hôm, lòng vẫn hơi ấm ức vì công việc dồn lại không biết ai gánh.
Xe khách từ Hà Nội lên chưa đầy hai tiếng đồng hồ đã thấy hai bên đường bắt đầu xuất hiện những đồi chè xanh mướt xen giữa mấy khu công nghiệp mới mọc. Xe chạy ngang tấm biển nhỏ ghi khu di tích lịch sử An toàn khu Định Hóa. Tôi tựa đầu vào cửa kính, nhìn mấy hàng chè lùi dần ra sau, không nghĩ ngợi gì nhiều, chỉ thấy đường còn xa. Người ngồi cạnh tôi trên xe ngủ gật cả chặng, đầu cứ ngả sang rồi giật tỉnh lại mỗi khi xe xóc qua đoạn đường gập ghềnh. Đám tang diễn ra ở một xã thuộc huyện Định Hóa; nhà cửa nằm rải rác dọc con đường nhỏ chạy song song một con suối cạn, xung quanh là những ngọn đồi thấp phủ chè và vài mảnh ruộng bậc thang đã gặt xong để trơ gốc rạ. Rạp đám tang dựng bằng mấy tấm bạt xanh chăng lên cột tre cắm tạm ngay trước sân; gió thổi phần phật lật cả mép bạt, thỉnh thoảng có người phải chạy ra buộc lại dây cho chắc.
Tôi đến kịp buổi viếng chiều. Vừa bước vào sân đã có một người phụ nữ trung niên chạy ra nắm tay tôi, hỏi thăm đủ chuyện từ gia đình, bố mẹ đến lương lậu, người yêu người đương… dù tôi không nhớ nổi bà là ai trong họ. Cả buổi chiều hôm đó cứ vài phút lại có người xưng con xưng cháu với tôi rất thân thuộc, có lúc tôi phải lấy cớ ra sân hóng gió cho đỡ phải trả lời thêm câu nào nữa. Trời âm u, gió từ phía đồi thổi xuống lành lạnh, mùi hương trầm quyện với mùi đất ẩm sau một trận mưa nhỏ buổi trưa. Trong nhà kê một bộ loa nhỏ phát nhạc hiếu rè rè vì loa cũ, xen giữa đó thỉnh thoảng có tiếng một ông cụ hàng xóm ngồi ngoài hiên gõ mõ đều đều, chậm rãi. Trên mâm cỗ phía sau bếp có đĩa măng đắng xào, bát canh gà lá giang và nồi cơm lam ai đó mang sang phụ; mùi tre nướng lẫn trong khói bếp củi thoảng khắp sân, thỉnh thoảng một cơn gió mạnh hơn lùa qua khiến ngọn nến trên bàn thờ chao đi chao lại.
Ngồi ngoài sân, tôi nghe loáng thoáng chuyện người ta kể về bác Nhung. Một bà cụ bóc lạc luộc chia cho mấy đứa trẻ, miệng không ngớt kể hồi bác còn khỏe hay ôm đàn ra ngồi mỗi khi trong xóm có hội, hát hết bài này đến bài khác mới chịu về, giọng nghe buồn mà thấm. Tôi ngồi nghe, trong đầu mơ hồ hiện lên một cái tên tôi từng lướt qua đâu đó, không nhớ rõ, chỉ thấy quen quen.
Tối hôm đó, trước giờ làm lễ nhập quan, có một ông già lụ khụ chống gậy từ đầu ngõ đi vào, tay ôm khư khư một cây đàn bọc trong tấm vải nâu. Mấy người trong họ gọi ông là thầy Sình, bạn diễn cũ của bác Nhung từ hồi còn trẻ. Mới nghe tin bác Nhung mất, ông Sình đến muộn nên chỉ kịp góp một khúc hát đưa tiễn. Ông ngồi xuống bên quan tài, mở tấm vải, so dây một lúc lâu rồi cất giọng, tiếng đàn hơi rè, run run theo nhịp tay của người đã xấp xỉ tám mươi. Cả sân bỗng lặng hẳn, chỉ còn tiếng đàn xen giữa tiếng gió lùa qua mấy tấm bạt, thỉnh thoảng một giọt mưa còn sót lại từ tán cây rơi xuống mái tôn kêu lộp bộp. Ánh nến trên bàn thờ hắt lên khuôn mặt nhăn nheo của ông một quầng vàng nhạt, tay ông run run trên phím đàn nhưng giọng lại vững, kéo dài từng câu như không muốn dứt. Tôi đứng ở góc sân nghe hết bài, không hiểu lời nhưng thấy sống lưng lạnh đi từng đợt, tự dưn
g nhớ đến câu "tích tịch tình tang" trong chuyện Thạch Sanh bà tôi hay kể hồi nhỏ; chàng trai nghèo đánh đàn giải oan, tiếng đàn vang tới tận cung vua khiến công chúa câm bỗng nói được thành lời. Hát xong, ông thầy Sình lặng lẽ gói đàn lại vào tấm vải nâu rồi chầm chậm lau mắt ra về, không nói thêm gì nữa.
Sau tang lễ, vì xe khách về Hà Nội chỉ chạy chuyến sáng sớm hôm sau, tôi ở lại một đêm tại nhà Kiều, con gái bác Nhung, đang học năm cuối trường sư phạm ở thành phố Thái Nguyên, về lo đám tang.
Buổi tối sau khi khách khứa về gần hết, Kiều pha cho tôi một ấm chè xanh rồi ngồi xuống bậc thềm gỗ. Nhà sàn của Kiều mái ngói còn nguyên nhưng cầu thang đã thay bằng bậc xi măng cho chắc, gầm sàn để trống nuôi mấy con gà đang lục tục rúc vào nhau ngủ. Có con thiêu thân bay vào đập cánh lạch tạch quanh bóng đèn. Câu chuyện chùng xuống một lúc khá lâu, tôi định kiếm cớ vào ngủ sớm cho xong thì Kiều tự nhiên lên tiếng, nhắc lại chuyện thầy Sình đàn lúc chiều.
- Chị thấy thầy Sình đàn hay không?
- Hay lắm. Chị chưa nghe loại nhạc cụ như vậy bao giờ.
Kiều im lặng một lúc, tay xoay xoay chén chè trong lòng bàn tay.
- Mẹ em còn hát hay hơn thế đấy chị. Chỉ có điều lâu lắm rồi mẹ không đàn nữa.
- Sao vậy?
Kiều nhìn ra khoảng sân tối, nơi có mấy con gà đang lục đục tìm chỗ ngủ dưới gầm sàn, im lặng khá lâu mới trả lời.
- Có lần mẹ mang đàn ra một đám cưới, đàn được nửa chừng thì loa nhạc trẻ bật to hơn hẳn. Từ hôm đó mẹ tuyệt đối không mang đàn ra chỗ đông người nữa cho dù có ai đó đến vật nài mời mẹ.
Kiều cười một tiếng, vẻ mặt có hơi buồn, kể tiếp chuyện dọn kho cách đây hai năm, thấy cây đàn nằm lăn lóc trong góc, dây đứt một sợi, đàn phủ bụi dày. Cô định mang ra chợ bán ve chai. Mẹ giữ lại, chỉ nói đúng hai chữ để đó, và cầm đàn lau sạch từng chút một rồi cất lên gác xép.
- Rồi có lần nào mẹ lấy xuống đàn lại không?
Kiều lắc đầu, giọng nhỏ hẳn.
- Chưa chị ạ.
Tôi không biết nói gì, chỉ ngồi im nghe tiếng côn trùng kêu ngoài vườn.
Sáng hôm sau, trước khi tôi ra bến xe, Kiều lên gác lấy xuống cây đàn, đặt lên bàn thờ mẹ, cạnh bát hương còn nghi ngút khói và tấm ảnh thờ chụp lúc bác Nhung còn trẻ, tóc búi gọn, mặc áo chàm. Nắng sớm hắt qua khe cửa rọi đúng vào bầu đàn, một lớp bụi mỏng còn vương trên mặt gỗ lấp lánh trong luồng sáng. Kiều đứng nhìn cây đàn một lúc lâu, tay đưa lên định gảy thử một tiếng rồi lại rụt về, cuối cùng chỉ vuốt nhẹ lên đàn rồi quay đi lo tiếp việc nhà.
Trên xe khách về Hà Nội, tôi ngồi cạnh cửa sổ nhìn những ngọn đồi chè lùi dần phía sau, mấy giọt mưa còn đọng trên kính chảy chéo thành vệt dài mỗi khi xe rẽ; đầu óc trống rỗng, chỉ có tiếng đàn của thầy Sình và hai chữ "để đó" của Kiều, và ánh sáng hắt lên những vết bụi vàng rực trên chiếc đàn cổ của bác Nhung cứ hiện lên, cứ văng vẳng thay nhau choán hết tâm trí tôi không dứt.
Về đến nhà đã tối muộn, trên bàn còn nguyên chồng báo cáo tôi bỏ dở từ hôm đi, bụi phủ mỏng lên bàn phím. Tôi tắm rửa qua loa rồi lên giường định ngủ luôn cho khỏe. Nhưng nằm một lúc lại không ngủ được, tôi bật điện thoại lên tra hát Then, đàn tính của người Tày, đọc lướt được một hồi. Có một cái tên khiến tôi hơi tò mò, lễ Lồng Tồng, nghĩa là lễ xuống đồng, tổ chức đầu xuân để cầu mưa thuận gió hòa, trong đó người ta còn chơi trò tung còn, ném một quả còn qua vòng tròn treo trên cây nêu giữa bãi. Càng đọc tôi càng thấy tiếc, một thứ âm nhạc đã được UNESCO ghi danh di sản mà đến người trong nhà cũng để mờ bụi rồi lạc mất từ lúc nào không hay.
Tôi mở lại file đề cương vẫn còn trắng, gõ vào dòng đầu tiên hai chữ để đó, rồi xóa đi, gõ lại một cái tên khác cho số đặc biệt "Tiếng đàn bỏ quên". Tôi viết một mạch đến gần sáng, kể lại chuyện cây đàn tính nằm trên gác xép, chuyện bác Nhung dần buông tiếng đàn, gợi ý mời thầy Sình cùng vài nghệ nhân hát Then còn theo nghề ở Định Hóa, dành riêng một đoạn để họ trình diễn lại những bài bác Nhung từng hát.
Nhìn vào file đề cương đang mở, gõ thêm vài dòng rồi gửi thẳng cho sếp trước khi kịp đổi ý. Sếp duyệt nhanh hơn tôi tưởng, chỉ hỏi lại đúng một câu, "em có chắc làm nổi không". Tôi vâng ngay, trong lòng tràn ngập cảm xúc kèm với nỗi lo lắng chỉ sợ mình không thực hiện được... Tôi liên hệ lại Kiều để xin số của thầy Sình. Tôi gọi điện đúng ba lần thầy Sình mới bắt máy vì ông không quen dùng điện thoại thông minh, phải nhờ cháu nội đứng cạnh bấm hộ loa ngoài. Ông nhận lời tôi ngay không cần suy nghĩ. Kiều cũng đồng ý lên hình để kể chuyện cây đàn của mẹ. Ban đầu Kiều ngại lắm, bảo mình có biết đàn đâu mà lên hình. Tôi động viên Kiều, em cứ kể chân thành, mộc mạc sự thật về cây đàn của mẹ, về tiếng đàn của mẹ em đã vang lên, chảy theo cuộc đời của bà, của mẹ em, của gia đình em như thế nào là được.
Trước ngày quay chương trình, tôi lên Định Hóa trước một hôm để khảo sát bối cảnh, ngồi lại rất lâu ở đúng góc hiên nhà Kiều, nơi bác Nhung từng ngồi đàn cho khách nghe. Kiều dẫn tôi lên gác xép qua một cái thang gỗ hẹp. Mùi ẩm mốc và mùi gỗ cũ xộc lên ngay từ bậc thang đầu tiên. Trên sàn gác chất mấy cái rương mây, vài bó củi khô, một chiếc nón lá sờn vành treo lủng lẳng trên xà nhà. Kiều chỉ tay vào một khoảng ván gần cửa sổ nhỏ, nơi cây đàn từng nằm đấy bao năm, giờ chủ nhân cây đàn đã đi xa, cây đàn cũng rời chỗ của mình lên trên bàn thờ cùng mẹ. Chỗ đó bây giờ chỉ còn một vệt bụi mờ hình chữ nhật in rõ trên mặt gỗ sẫm màu, sạch hơn hẳn phần xung quanh phủ bụi dày. Ánh sáng từ khe cửa sổ chiếu xiên qua, rọi đúng vào cái khoảng trống vệt bụi đó, làm nó nổi hẳn lên như một cái bóng không có vật. Tôi đứng nhìn khoảng trống đó khá lâu. Trong tâm trí tôi, những âm thanh lúc mờ lúc tỏ tí tách vang lên, vọng về một ký ức diệu vợi. Tôi nhìn thấy một cô gái Tày với bộ áo chàm quen thuộc ôm cây đàn, tiếng hát trong vắt cất lên, cùng những thanh âm trầm bổng của cây đàn. Tôi chỉ muốn khóc, không nói gì được, chỉ lặng lẽ chụp lại một tấm ảnh cho vào kịch bản.
Buổi ghi hình diễn ra một ngày mưa lất phất, dựng ngay trong sân nhà Kiều, không phông thổ cẩm cầu kỳ như tôi từng thấy trên tivi năm nào, chỉ kê thêm mấy chiếc ghế mây và bày lại đúng góc hiên đơn sơ nơi bác Nhung hay ngồi đàn lúc sinh thời. Mưa rơi lộp độp trên mái tôn suốt buổi, thỉnh thoảng ê-kíp phải dừng lại chờ tạnh bớt rồi quay tiếp. Thầy Sình ôm cây đàn của bác Nhung; cây đàn vừa được Kiều mang xuống từ bàn thờ, gắn lại sợi dây đứt, lau sạch bụi. Ông so dây một lúc khá lâu trước khi hát, giọng còn hơi run ở câu đầu rồi mới vào nhịp, đúng những nốt tôi từng nghe đêm nhập quan. Đến đoạn Kiều kể chuyện cây đàn của mẹ nằm trên gác xép bao năm, cây đàn bị bỏ quên bởi muôn vàn âm thanh điện tử mới của lễ hội, cây đàn đã thẫn thờ cùng mẹ những đêm trăng một mình bên mái hiên mẹ so lại dây đàn và gảy lên những bản nhạc tha thiết… Trong câu chuyện những ký ức về cây đàn của mẹ, Kiều nghẹn lại giữa chừng, phải dừng quay mấy lần để thấm đi những giọt nước mắt trong suốt. Tôi ngồi sau máy quay, tay siết chặt cây bút, nước mắt tôi cũng chực rơi tự bao giờ.
Chương trình lên sóng vào một tối cuối tuần. Tôi tắt điện thoại đi ngủ sớm, không dám ngồi canh xem lượt tương tác như mọi lần vì sợ thất vọng. Sáng hôm sau tỉnh dậy, mở điện thoại lên, thấy hàng loạt thông báo, số lượt xem đã vượt qua một triệu. Tôi lướt qua phần bình luận, đa số là người trẻ, có bình luận được thả tim nhiều nhất chỉ viết đúng một câu, lần đầu biết đến cây đàn này mà thấy thương đến vậy, phía dưới có người hỏi ở Hà Nội chỗ nào dạy đàn tính. Tôi đọc từng dòng rồi nhắn cho Kiều.
- Chương trình được đón nhận lắm em ạ, em xem chưa?
Kiều nhắn lại sau đó một lúc:
- Em xem rồi chị. Em ngồi khóc từ lúc tiếng đàn của thầy Sình vang lên đến hết chương trình. Em cảm ơn chị!
Tôi nhìn dòng tin nhắn đó hồi lâu, gõ lại, không có gì đâu em, rồi tắt màn hình. Trong ngăn kéo bàn làm việc tôi vẫn còn giữ vài tấm danh thiếp của các trung tâm bảo tồn văn hóa, định bụng sẽ liên hệ lại để làm tiếp một số khác về nhạc cụ dân tộc của từng vùng.
Mấy hôm sau Kiều gửi cho tôi một đoạn video ngắn, quay lại cảnh mấy đứa trẻ con trong xóm ngồi quây quanh thầy Sình ngoài sân, tay lóng ngóng tập gảy mấy nốt đầu tiên trên một cây đàn tính mới, chỗ dây bị bấm sai kêu chói cả lên; đứa nào đứa nấy cười ầm ĩ. Có đứa nhỏ nhất ôm cây đàn to gần bằng người, hai tay ôm chặt bầu đàn như sợ đánh rơi, mặt vẫn cười toe không biết ngượng. Tôi xem đi xem lại đoạn đó vài lần rồi lưu lại vào máy, nghe lòng mình dậy lên một nỗi vui râm ran.