“Gió thổi ngọn thốt nốt xạc xào. Nước dòng sông chảy ngược xuôi. Mẹ vắt nước đường ngọt lịm đôi môi. Nuôi con khôn lớn thành người bao dung. Hò ơ... con ngủ cho ngoan. Mai sau khôn lớn giữ làng giữ phum” - (Cây thốt nốt - dân ca Khơ me)
1. Chanh Đa Chanh Đa: ánh trăng ngồi trên bậc thềm vừa móc con cọp bằng len vừa nghêu ngao hát một bài dân ca của dân tộc mình. Ngoài sân, bà Sáu, mẹ chồng chị ngồi trên võng lắc lư, thi thoảng mời mọc khách hành hương đi ngang mua vài món lặt vặt. Đường núi bây giờ khách vắng thưa. Mỗi ngày mẹ chồng Chanh Đa bán được vài chai nước ướp lạnh, mấy cây quạt, dăm ba bịch bánh kẹo. Hai bếp lò từng nổi lửa chiên bánh xèo, nấu bún chay cái thời một ngày bán mấy triệu giờ nằm lạnh tanh chỗ chái nhà dột, được che lại bằng miếng bạt nhựa rồi dằn thanh củi lên trên. Quang vừa dừng tay nghe vợ mình hát xong bài hát ru lại tiếp tục đóng những cây đinh cuối cùng vào cái nôi gỗ. Cái nôi này Quang chật vật cả tuần nay mới xong. Cũng phải thôi, ung thư gan thời kỳ cuối đâu phải còn trai trẻ. Đây có lẽ là món quà kỷ niệm cuối cùng anh để lại cho con trai.
Chanh Đa nhìn con cọp len trên tay mình, rồi nhìn cái nôi trong tay chồng, tiếng ca nghẹn lại, mắt đỏ hoe. Bà Sáu nằm dài ra võng, gác tay lên trán che gần nửa gương mặt dãi dầu mưa nắng. Gió từ triền núi quất vào mái tôn lỏng lẻo bên hông nhà nghe ken két; tiếng võng đưa càng kẽo kẹt. Quang biểu, bầu bí đừng có khóc nhiều, không tốt cho em bé, Chanh Đa cũng muốn nghe lời lắm, nhưng đây không biết đã là lần thứ mấy chị len lén khóc rồi.
2. Hồi biết vợ có bầu, Quang quyết định dứt khoát ngừng điều trị tây y, đòi về quê đi hốt thuốc nam uống. Lần đó hai vợ chồng cãi nhau một trận lớn.
“Ung thư gan thời kỳ cuối thì trị kiểu gì cho hết. Hết tiền thì có”. Quang chua chát nghĩ vậy chứ không nói cho vợ thêm đau lòng. Anh chỉ nói, thầy Ba chỗ đình Kỳ Yên bên kia sông Lớn, đường đi có hơi xa nhưng nghe nói hốt thuốc hay lắm. Ổng mà chịu trị kiểu gì cũng còn hy vọng. Chanh Đa vừa giận vừa thương, chị biết chồng muốn dành dụm số tiền còn lại cho mẹ con chị sau khi anh khuất núi. Chị lắc đầu, mắt cay xè.
Lúc thai được bốn tháng, biết trong bụng vợ là một bé trai, Quang mừng ra mặt. Tối đó, Quang ôm vợ hớn hở tỉ tê đủ chuyện tương lai.
- Mình đặt con tên Minh đi. Tên Minh đẹp. Ở dưới triền núi thằng Minh con ông Chín “xe bò” mặt mày sáng sủa, học giỏi. Nó đi học ở thành phố rồi có công ăn chuyện làm lương cả chục triệu. Con mình cũng phải giỏi như vậy, mai mốt cũng phải được học hành tử tế với người ta, chứ đừng như vợ chồng mình cả đời chôn chân ở đây.
- Em muốn đặt con tên Sokha Sokha, là bình an, hạnh phúc, để mong con một đời bình an. Con mình chỉ cần khỏe mạnh như cây thốt nốt, rồi “mai sau khôn lớn giữ làng giữ phum” là được.
- Nghe người ta nói con trai giống mẹ, giống em thì tốt; mắt to đen láy, chân mày rậm, trán rộng thông minh.
- Em lại mong con giống anh, cao ráo rắn rỏi, lại giỏi giang tốt bụng.
Trong bóng tối, chồng một câu, vợ một câu cứ vậy mà vỗ về nhau. Nước mắt Chanh Đa vô thức rơi lúc nào không hay. Quang cũng nén một tiếng thở dài.
Sáng hôm sau, Quang dẫn vợ xuống chợ mua đồ cho con. Hai vợ chồng rôm rả lựa chọn, nhìn món đồ nào cũng thấy thương, nghĩ tới đứa bé nhỏ xíu mặc mấy cái yếm này thì cưng dữ lắm, cái khăn xô mà quấn em bé lại như đòn bánh tét ôm cả ngày không chán. “Con gấu bông này nằm kế thằng con mình không biết đứa nào lớn hơn ta”.
Hai vợ chồng mua ba bộ quần áo, một cái khăn xô, một cái nón, một đôi bao tay bao chân. Về nhà, Chanh Đa tự tay ngâm giặt sạch sẽ, phơi khô rồi xếp cất vô tủ. Nhìn những món đồ nhỏ xinh, không hiểu sao chị lại rớt nước mắt.
Lúc Quang đóng cái nôi gỗ, Chanh Đa mang thai được bảy tháng. Chanh Đa vừa hoảng vừa xót xa. Gần hai tuần nay, Quang cũng không còn tự một mình đi ra suối, ra vườn như trước nữa. Mọi sinh hoạt đều cần Chanh Đa và mẹ chồng giúp đỡ. Chị thấy được sự bất lực trong mắt chồng. Nên khi Quang đòi đóng cái nôi cho con trai, dù biết Quang sẽ mất nhiều sức, Chanh Đa và mẹ chồng cũng không cản.
Vào một ngày mưa bão tháng sáu không dứt, ngọn núi chìm vào một màu trắng xóa. Buổi sáng thức dậy không thấy mặt trời, lại là một ngày hiếm hoi Quang ngồi dậy được. Anh ăn hết một chén cháo, kêu vợ múc thêm chén nữa. Ăn xong, anh uống hết chén thuốc, rồi ngồi dựa vào thành giường, nhắm mắt tĩnh thần.
- Em với mẹ dùng số tiền còn lại kiếm nơi nào dễ sống mà nuôi con, đừng sống ở đây cả đời.
Giọng anh nói rất rõ ràng, nhưng lại ngập ngừng. Chanh Đa liên tục xoa bóp, hà hơi vào hai bàn tay lạnh khẳng khiu của chồng, không lên tiếng. Quang thở hắt ra, nằm xuống.
Chiều lại, mưa ngoài trời chưa kịp tạnh, một kiếp người của Quang đã âm thầm kết thúc.
3. Sau đám tang của Quang, Sương và Chí xuất hiện ở nhà bà Sáu. Hai vợ chồng ăn mặc sang trọng, khác hẳn với người dân ở đây. Sương là chị họ xa của Chanh Đa. Gần một năm nay, họ mướn một căn nhà dưới triền, ngay đường lên núi để ở. Cách một thời gian, họ lái xe đưa Chanh Đa đi khám thai.
Lần này, họ xin phép bà Sáu đưa Chanh Đa về nhà của vợ chồng Sương ở thị xã dưỡng thai, chờ ngày lâm bồn. Bà Sáu không tiễn Chanh Đa mà nằm riết trong phòng.
Quang và Chanh Đa cưới nhau hơn mười năm. Trong một lần lên núi hái thuốc, Quang vì cứu vợ rồi bị tai nạn. Không biết có phải vì vậy mà nhiều năm trôi qua chuyện con cái của hai vợ chồng không chút động tĩnh. Những năm tháng dài trôi đi, hai vợ chồng cứ vậy mà sống, định bụng tới một lúc hữu duyên sẽ xin một đứa con nuôi. Quang như một cái cây cô độc giữa đồng, liên tục hứng chịu cơn sét nghiệt ngã của số phận khi tiếp tục đối mặt với căn bệnh ung thư gan. Hơn một năm trời điều trị, tiền bạc tích cóp trong nhà lần lượt khánh kiệt cùng với sức khỏe của Quang. Mười công đất vườn rừng của bà Sáu, phân nửa chia cho hai chị gái của Quang, số còn lại bà cũng cắn răng bán hết lấy tiền chạy chữa, kéo dài mạng sống cho con trai, chỉ giữ lại căn nhà bên suối để làm chốn đi về cho ba mẹ con.
Chanh Đa từ nhỏ không có cha mẹ, được sư Cả, trụ trì của những ngôi chùa Khơ me ở miền Tây chùa Krang Chai nuôi lớn, lấy chồng rồi lại nương tựa gia đình chồng. Ban đầu chị nghĩ, cuộc đời mình như vậy là an ổn, không có gì phải hối tiếc. Nhưng trong sâu thẳm, chị rất muốn một lần được làm mẹ, muốn Quang được làm cha. Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau như bao người phụ nữ khác, chị muốn thử một lần. Nên sự xuất hiện của người chị họ xa giàu có tên Sương, với vợ chồng Chanh Đa như một vị cứu tinh của họ. Quang đã động viên vợ giúp vợ chồng Sương, cũng là một cách làm phúc làm đức cho người thân của mình.
Rồi Chanh Đa mang thai. Ngay khi mầm sống bắt đầu lớn dần trong bụng, trái tim chị vô thức hình thành một sợi dây yêu thương vô bờ bến với sinh linh bé nhỏ này. Mỗi ngày trôi qua, chị cảm nhận được một sự sống đang dần lớn lên trong bụng mình. Chị che chở, ôm ấp, vỗ về; chị hát cho con nghe những bài dân ca của dân tộc mình. Chị hớn hở khoe với chồng sau mỗi lần áp tay lên bụng, sẽ cảm nhận được chuyển động của con.
Lần đi khám thai với vợ chồng Sương, Chanh Đa được thấy hình hài đứa bé qua màn hình siêu âm trắng đen, có đầy đủ tay chân, nằm thong dong, miệng nhai nhóp nhép. Đó là khoảnh khắc thiêng liêng trong gần ba mươi năm cuộc đời, lần đầu tiên chị cảm nhận được.
Quang và Chanh Đa trân quý, lưu luyến từng khoảnh khắc lần đầu làm cha làm mẹ. Chanh Đa yêu thương đứa trẻ vì tình mẫu tử. Còn Quang âm thầm nghĩ, đứa trẻ này sẽ trở thành chỗ dựa cho vợ khi anh qua đời; con của chị cũng là con của anh. Chị từng có những giấc mơ, vợ chồng chị cùng con sống bên nhau thật lâu, thật hạnh phúc. Đứa con trai mang tên Minh hay Sokha đều được. Rồi nó sẽ được mặc những bộ đồ vợ chồng chị mua, nằm trên cái nôi gỗ anh đóng. Khi chồng khuất núi, hai mẹ con tiếp tục sống bình an một đời.
4. Trăng tháng tám chưa kịp tròn, Chanh Đa đã khai hoa nở nhụy. Dù không đủ tháng, đứa bé cũng không quá yếu ớt. Toàn thân chị tê liệt trên bàn mổ, sau tiếng bác sĩ nói “chị bắt em bé ra nhé”, cảm giác bàn mổ rung lắc dữ dội, Chanh Đa nghe tiếng khóc yếu ớt rồi lớn dần, lớn dần. Trái tim người mẹ vô thức lạc nhịp. Lần này, chị đã không khóc. Con đã ra đời, chị phải vui vẻ để chào đón thiên thần nhỏ, được nhân viên y tế đặt lên mình chị. Sau trận khóc lớn, đứa trẻ áp má lên ngực Chanh Đa một cách an nhiên. Chanh Đa trào nước mắt thì nhìn thấy trên gương mặt con trai một vết bớt hồng xinh xinh như cánh hoa đậu sát tóc mai trên vầng trán rộng. Vì không thể dùng hai tay ôm con, chị chỉ có thể run rẩy khe khẽ hát bài dân ca quen thuộc. “Gió thổi ngọn thốt nốt xạc xào. Nước dòng sông chảy ngược xuôi. Mẹ vắt nước đường ngọt lịm đôi môi…”.
Trước cửa phòng mổ, Sương mặc áo dành cho thân nhân, vừa háo hức vừa bồn chồn, sẵn sàng đón tay đứa bé mang tên Gia Bảo, là gia tài, là bảo vật của gia đình. Nếu nói, mỗi người xuất hiện trong cuộc đời mình đều mang theo một sứ mệnh, khi hoàn thành xong, họ sẽ rời đi. Quang là định mệnh, mang tới cho Chanh Đa một mái nhà. Sự hiện diện của đứa bé để cho chị biết cảm giác làm mẹ, để ủi an Quang những ngày cuối đời. Duyên mẹ con ngắn ngủi, không trọn vẹn, nhưng đủ để chị biết ơn một đời. Nên với Chanh Đa, vợ chồng Sương cũng chính là ân nhân của chị.
Ngày thứ tư sau khi Gia Bảo ra đời, Sương ẵm con đi từ phòng điều dưỡng trở về đã không còn thấy Chanh Đa đâu nữa. Cô thẫn thờ ôm con trai, nước mắt lăn dài, hối hận về những điều chưa kịp nói với Chanh Đa. Sương thực sự coi Chanh Đa như người chị em của mình, đợi chị hồi phục cả sức khỏe lẫn tinh thần cô mới nói chuyện tương lai. Sương muốn theo một cách nào đó, cả chị và Chanh Đa sẽ cùng yêu thương và chăm sóc thằng bé.
Nhưng, Chanh Đa không chờ được. Chị sợ, mình ở bên con thêm một ngày, dũng khí rời xa con càng ít đi. Bây giờ sẵn vết mổ còn quặn thắt từng cơn, trái tim chị sẽ bớt đau một chút. Chị cũng không cần tới số tiền còn lại vợ chồng Sương đã hứa đưa cho chị khi đứa trẻ ra đời. Quang mất rồi, chị cũng đâu cần thêm tiền nữa. Chị mà nhận số tiền đó sẽ thực sự giống như mình đang bán con.
Những ngày được Sương chăm sóc, nhìn vào mắt Sương, Chanh Đa thấy được khao khát làm mẹ của chính mình trong những năm tháng trước kia. Sương lo cho Chanh Đa tỉ mỉ cẩn thận như chăm sóc người thân. Cô nâng niu đứa con trong bụng Chanh Đa không khác gì chính mình đang mang thai. Sương ngày ngày trò chuyện với đứa nhỏ trong bụng của người em họ trên danh nghĩa. Cô hết lòng hết dạ với đứa trẻ mang dòng máu của Chí, chồng mình.
Chanh Đa khó nhọc lê thân về tới nhà, đứng lẻ loi giữa không gian tĩnh lặng với hai tấm hình trên bàn thờ. Tiếng gõ mõ tụng kinh của vị sư cô làm căn nhà trống trải càng thêm tịch mịch. Mẹ chồng qua đời trong một giấc ngủ trưa, có lẽ ra đi nhẹ nhàng lắm, khi đó còn chưa đủ bốn mươi chín ngày của con trai bà.
Chanh Đa bước tới bên nôi, con cọp len còn đó, những món đồ mua cho con trai xếp gọn một góc. Người đóng nôi và đứa trẻ tên Minh, tên Sokha mãi mãi không trở về. Đến cả một mảnh gia đình ấm áp của chị còn sót lại cũng trôi theo dòng suối tới hạ nguồn, chìm vào lòng đất. Tài sản chị còn lại là căn nhà trơ trọi với bàn thờ hai người thân yêu, cùng nỗi nhớ một đứa con không thuộc về chị.
5. Chanh Đa như cây thốt nốt xứ núi, dù cô độc một mình vẫn bám đất khô cằn xứ núi mà lớn lên, đâm hoa kết trái. Chị tìm đủ sinh kế để sống. Chị về sóc mua trái thốt nốt, mua đường của người dân gánh đi bán ở chợ, ở khắp các nẻo đường từ dưới xuôi lên tới đỉnh núi, nơi tập trung nhiều khách du lịch. Qua một thời gian, chị học nghề làm đường thốt nốt từ người già trong phum, lấy mật hoa nấu thành những viên đường vàng ươm thơm lừng. Chị phải sống, phải sống trọn vẹn phần đời mà Quang, chồng chị chưa từng trải qua. Chị sống vì nỗi nhớ con đằng đẵng qua năm dài tháng rộng.
Cứ cách vài tháng, Chanh Đa ngồi xe đò xuống thị xã tìm tới nơi vợ chồng Sương ở. Chị không vô nhà, chị đứng dưới gốc cây bàng bên kia đường xéo nhà Sương, khi thì ngồi chỗ ngã ba đầu đường cách nhà Sương năm mươi mét, lúc ngồi ở một góc khuất của quán nước cách nhà Sương hai căn. Chị lặng lẽ chờ đợi cho tới lúc nhìn mặt được thằng Bảo mới trở về. Những lần len lén nhìn con không làm Chanh Đa nguôi đi nỗi nhớ nhung. Chị biết đứa trẻ mình sinh ra năm đó được vợ chồng Sương dành một tình thương vô bờ bến, chăm sóc, dạy dỗ tử tế. Có lần chị nhìn thấy được dáng vẻ ngoan ngoãn, ánh mắt to tròn sáng rực, chiếc bớt hồng nhẹ trên trán sát với tóc mai của đứa bé từng mang tên Minh của chị. Chị sợ, tới một ngày con lớn, chính chị không còn nhận biết mặt con nữa.
Một ngày khi Gia Bảo được năm tuổi, Chanh Đa không còn thấy gia đình Sương ở căn nhà cũ nữa. Họ đã chuyển tới một thành phố xa hơn, lớn hơn để sinh sống. Những lần sau đó, Chanh Đa chỉ có thể nhìn cánh cửa khóa im lìm, âm thầm tưởng tượng ra dáng vẻ của con mình. Rồi căn nhà có chủ mới. Chanh Đa thử bước chân lên thành phố. Chị đi rong ruổi khắp các nẻo đường đầy xe cộ khói bụi cho tới những vùng ven ngoại thành. Xung quanh người ồn ào đông đúc mà chị thấy mình quạnh quẽ cô liêu, không biết phải đi đâu mới tìm được con mình.
Chị xếp lại quãng thời gian mười năm ròng rã tìm con. Chị không còn gánh gồng đi bán. Chị ở căn nhà bên suối, nổi lửa căn bếp của mẹ chồng. Quán nhỏ của Chanh Đa trở thành một nơi nghỉ chân lý tưởng cho khách du lịch. Họ dừng chân dưới gốc cây dầu, lấy nước suối rửa mặt, ngồi ăn một cái bánh xèo, một tô bún lót dạ cho chặng đường leo núi tiếp theo. Khách từ trên núi trở xuống sau chuyến hành hương, ghé mua vài cây đường thốt nốt tự tay Chanh Đa nấu về làm quà cho người thân.
Chị vẫn thường hay ngân nga những bài đồng dao cũ về con chim két: “Con chim két ơi, sao mày bay đậu cành tre? Nó mổ trái sung ăn, sung chát chúa cả lòng. Nó bay sang đậu cành bồ đề. Tìm trái chín ngọt xơi cho bõ công. Hỡi con ơi, ngủ cho ngoan nhé con. Đời người phải chịu đắng cay mới nếm được quả ngọt bùi”.
Cuộc đời gian truân của Chanh Đa cứ vậy tiếp tục trôi qua thêm mười năm.
6. Một ngày oi nồng giữa mùa hè, nắng hun ngọn núi thành một chảo lửa khổng lồ. Đường núi vắng tanh, Chanh Đa từ lò đường bước lên nhà, cả người như được xông một mùi mật hoa ngọt nồng. Chị vừa đi vừa lấy khăn rằn lau mồ hôi trên mặt, trên mái đầu đã lấm tấm sợi tóc bạc. Phía dưới con dốc, một bóng dáng thanh niên dong dỏng cao, vai đeo ba lô từng bước, từng bước vững vàng đi về phía quán nhỏ của Chanh Đa. Chàng trai tầm hai mươi tuổi, mày rậm, mắt to đen láy, vầng trán cao sáng sủa. Trời ơi, Chanh Đa không còn tin vào mắt mình nữa. Chị dụi mắt liên tục; càng dụi, nước mắt ở đâu nhiều thế cứ trào ra… Nhưng qua màn nước mắt cô vẫn nhìn rõ vết bớt màu hồng thấp thoáng dưới vầng trán phía tóc mai chàng trai như một cánh hoa hồng đậu khẽ vào.
Chanh Đa ngồi thụp xuống mà vẫn không hết cảm giác trôi trong mơ. Hai mươi năm ăn trái chát đắng, cuối cùng người con gái như vầng trăng sáng cũng chờ được ngày nếm trái ngọt. Mặt trời đậu trên vai áo của chàng trai chiếu sáng khóe mắt long lanh của Chanh Đa đang cười mà nước mắt lóng lánh rơi.