Văn học về kháng chiến chống Mỹ, viết trong và sau kháng chiến

Cụm từ “văn học về kháng chiến chống Mỹ” đưa ra cho chúng ta hai cách hiểu. Thứ nhất: đó là nền văn học viết trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra (1954 - 1975). Thứ hai: đó là nền văn học viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của quân đội và nhân dân Việt Nam nói chung, nghĩa là bao hàm cả “văn học viết về kháng chiến chống Mỹ trong kháng chiến chống Mỹ” và “văn học viết về kháng chiến chống Mỹ sau kháng chiến chống Mỹ”, mà kể từ khi đất nước thống nhất đến nay, đã tròn 50 năm (1975 - 2025).

1. Trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra, chúng ta ghi nhận một lực lượng tác giả hùng hậu, hợp thành từ những nhà văn, nhà thơ thành danh thời kháng chiến chống Pháp: Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Hồ Phương, Hữu Mai v.v..., và một lứa rất đông các nhà văn, nhà thơ kế tiếp, trưởng thành trong sự trưởng thành, lớn mạnh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Phan Tứ, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Thanh Thảo, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Thi, Nguyễn Duy, Dương Hương Ly, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Thụy Kha v.v...

Văn học về kháng chiến chống Mỹ, viết trong và sau kháng chiến -0
Những tác phẩm đã góp phần làm nên diện mạo văn học viết về kháng chiến chống Mỹ

Ở lứa các nhà văn, nhà thơ kế tiếp này, xét về nguồn gốc xuất xứ, hầu hết họ đều là những nghệ sĩ - chiến sĩ nếu không thuộc biên chế những tờ báo hoặc tạp chí do Quân đội quản lý, như Báo Quân đội nhân dân, Tạp chí Văn nghệ quân đội, hay tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng (ở khu V), thì cũng là những học sinh, sinh viên tình nguyện có mặt tại các chiến trường khốc liệt, chiến đấu và sáng tác ngay tại mặt trận. Như nhiều nhà nghiên cứu văn học sử và phê bình văn học đã chỉ ra, về tổng quát, đặc điểm lớn nhất của văn học Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ là tính sử thi đậm đặc, là cảm hứng về cộng đồng dân tộc rộng lớn, là sự căm thù đế quốc xâm lược, là lòng yêu nước chứa chan và khát vọng chiến đấu, hy sinh hết mình để giải phóng miền Nam thân yêu, đưa đất nước đến ngày hoàn toàn thống nhất. Nền văn học giai đoạn này, dù ở các thể loại tự sự hay trữ tình, đều hướng đến cái chung, cái phổ biến, chứ rất ít có những quan hệ cá nhân hoặc tình cảm cá nhân riêng tư đơn lẻ và khác biệt. Chính vì thế mà các hình tượng văn học đều mang tính khái quát hóa rất cao, thậm chí trở thành các biểu tượng (symbol).

Hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong nhiều tác phẩm văn và thơ giai đoạn này, là ví dụ rất tiêu biểu. Hình tượng người chiến sĩ giải phóng quân hy sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất trong thơ của Lê Anh Xuân thì không chỉ để nói về anh giải phóng quân, mà là nói về “dáng đứng Việt Nam” kiên cường, bất khuất và trường tồn. Tình yêu của đôi nam nữ thanh niên trong tiểu thuyết “Mẫn và tôi” của Phan Tứ, và quan hệ cha con người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong tiểu thuyết “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, chẳng hạn, thì không chỉ để nói về đôi trai gái yêu nhau hay sự ấm áp của mối quan hệ cha con trong gia đình, mà cái riêng đã hòa vào cái chung, trở thành sự chung sức, tiếp bước giữa các thế hệ, cùng nhau nhìn về một hướng giữa các cá nhân: cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Tương tự, trường ca nổi tiếng “Bài ca chim Chrao” của nhà thơ Thu Bồn kể chuyện tình bạn chiến đấu keo sơn và tấm gương hy sinh anh dũng của hai cán bộ cách mạng là Hùng (người Kinh) và Y Rin (người Thượng), nhưng rõ ràng đây không phải chỉ là trường ca về tình đồng đội, đồng chí giữa hai cá nhân, mà vượt lên, nó là một trường ca về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí một lòng theo Đảng, theo cách mạng, và tinh thần chiến đấu vô cùng bất khuất của đồng bào các tộc người Tây Nguyên anh dũng.

Nói chung, nếu xét về giác độ thể loại, “văn học viết về kháng chiến chống Mỹ trong kháng chiến chống Mỹ” đã phát triển khá đầy đủ những thể loại cần thiết để hình thành diện mạo của một nền văn học hiện đại: thơ trữ tình, trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết. Nhưng vẫn cần phải nói đến một thể loại nữa: ký văn học, với các biến thể tiểu loại như bút ký hay tùy bút. Do hoàn cảnh chiến tranh và sáng tác tại chiến trường, ngay lập tức khi sự kiện xảy ra, và hơn nữa, với tính chất phi hư cấu đặc định (non-fiction), ký văn học trong kháng chiến chống Mỹ luôn hầm hập hơi thở của thời sự và tình cảm của thời đại. Tác phẩm “Bức thư Cà Mau” của nhà văn Anh Đức - dưới hình thức bức thư của một nhà văn trẻ từ chiến trường miền Nam gửi ra cho nhà văn lão thành Nguyễn Tuân ngoài Bắc - là cồn cào nỗi nhớ Hà Nội, nhớ miền Bắc Xã hội chủ nghĩa (dù chưa một lần được gặp) và niềm trông ngóng ngày đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất.

Tác phẩm ký “Đường chúng tôi đi” mà nhà văn Nguyễn Trung Thành viết từ chiến trường khu V, in trên Văn nghệ Quân giải phóng số đầu tiên, là cả một bừng bừng hào khí của những người lính trẻ vào trận, với đầy đủ ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ của mình với Tổ quốc, với nhân dân, với sự nghiệp cách mạng. Tập tùy bút “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” của nhà văn Nguyễn Tuân là một niềm tự hào to lớn về ý chí chiến đấu và sức mạnh chiến thắng của quân dân Việt Nam trước cỗ máy chiến tranh tưởng như không có gì địch lại được của đế quốc Hoa Kỳ. Cần phải nhớ rằng tập tùy bút này của Nguyễn Tuân được Hội Văn nghệ Hà Nội xuất bản ngay sau khi đợt ném bom B52 cuối cùng của Mỹ chấm dứt (31/12/1972). Và điều này đưa chúng ta đến suy nghĩ về tác động của những thiết chế văn học - báo, tạp chí, nhà xuất bản, hội đoàn văn chương, các giải thưởng - đối với sự phát triển của sáng tác văn học nói chung và sáng tác “văn học về kháng chiến chống Mỹ trong kháng chiến chống Mỹ”.

Những ai quan tâm hẳn còn nhớ: trong bối cảnh bom đạn chiến tranh vô cùng khốc liệt, Hội Nhà văn Việt Nam, Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ quân đội…  vẫn duy trì hoạt động bình thường, vẫn tổ chức các cuộc vận động sáng tác, các cuộc thi, vẫn phát hiện và trao giải thưởng cho các tác giả, tác phẩm xứng đáng. Ví như ở “mùa thơ trận mạc” năm 1972 - 1973, Báo Văn nghệ đã cùng lúc trao giải Nhất cho bốn nhà thơ đang chiến đấu và sáng tác ở những chiến trường nóng bỏng nhất, những cái tên sau này sẽ trở thành niềm tự hào của thơ ca Việt Nam thời chống Mỹ: Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm.

2. Sau năm 1975, văn học kháng chiến chống Mỹ đã chuyển sang giai đoạn “văn học viết về kháng chiến chống Mỹ sau kháng chiến chống Mỹ”. Có một khoảng thời gian trên dưới 10 năm, quán tính của lối nghĩ, lối viết cũ - lối viết đã làm nên hào quang cho “văn học viết về kháng chiến chống Mỹ trong kháng chiến chống Mỹ” - lại trở thành sức ì với các tác giả, nhất là các tác giả cựu binh, những người từ chiến tranh đi ra. Đến mức, chừng như bức bối không thể chịu nổi, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã viết một tiểu luận rất gay gắt: “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, đòi hỏi người sáng tác văn học phải đổi mới cách nghĩ, cách viết, nhất là viết về cuộc kháng chiến vừa qua.

Nhu cầu phải đổi mới từ nội tại của những người cầm bút lại cộng thêm với gió đổi mới, cởi trói tư duy sáng tạo từ Đại hội Đảng lần thứ VI đã khiến cho văn học Việt Nam thay đổi thật nhanh chóng, mạnh mẽ, trong đó có văn học viết về kháng chiến chống Mỹ. Đầu tiên phải kể đến làn sóng trường ca bắt đầu từ giữa những năm 1980: “Đất nước hình tia chớp” của Trần Mạnh Hảo, “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh, “Trường ca sư đoàn” của Nguyễn Đức Mậu, “Sông núi trên vai” của Anh Ngọc v.v... Tiếp đến là tiểu thuyết: “Vòng tròn bội bạc”, “Ăn mày dĩ vãng” của Chu Lai, “Đất trắng” của Nguyễn Trọng Oánh, “Trong cơn gió lốc”, “Không phải trò đùa” của Khuất Quang Thụy, “Chim én bay” của Nguyễn Trí Huân, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Tàn đen đốm đỏ” của Phạm Ngọc Tiến, “Những mảnh đời đen trắng” của Nguyễn Quang Lập v.v...

Ở mảng những tác phẩm trường ca và tiểu thuyết này – chưa kể thơ trữ tình và truyện ngắn – cuộc kháng chiến vừa qua đã được nhìn nhận theo một cách đầy đủ và sòng phẳng hơn. Chiến đấu là chính nghĩa và tất yếu, chiến thắng là vĩ đại và rất đáng tự hào, nhưng cái giá mà dân tộc ta phải trả cho hòa bình và thống nhất cũng quá lớn. Chiến tranh hủy hoại sinh mạng con người, hủy hoại phẩm tính người, tàn phá thiên nhiên và môi trường sống, dư chấn mà nó tạo ra kéo dài rất lâu và cũng rất khó lấp đầy trong đời sống tinh thần của cả đất nước. Các nhà văn, nhà thơ của chúng ta, ở vị thế của người thời hậu chiến, đã nhìn thời mà mình đang sống và nhìn về giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đã trải qua bằng cái nhìn như thế. Điều đó đã góp phần làm nên giá trị nhân văn cho tác phẩm của họ.

Kháng chiến chống Mỹ đã kết thúc 50 năm (1975 - 2025). Nhưng với tư cách một giai đoạn lớn trong lịch sử chiến đấu chống xâm lược của dân tộc Việt Nam, giai đoạn ấy vẫn chưa, và không thể chấm dứt sứ mệnh làm một trong những ngọn nguồn đề tài cho nhận thức và sáng tạo văn học nghệ thuật. Nền văn học Việt Nam viết về kháng chiến chống Mỹ của chúng ta - cả trong và sau kháng chiến - đã ghi nhận khá nhiều thành tựu đáng kể, nhưng chủ yếu đến từ các tác giả cựu chiến binh, những người đã đi qua chiến tranh và “không sao thoát ra khỏi chiến tranh”. Giờ đây, bạn đọc đang chờ đón những thành tựu mới, được kiến tạo từ những tác giả thuộc thế hệ mới, những người chưa từng bao giờ có trải nghiệm thực tế về chiến tranh.

Hoài Nam

Các tin khác

Hào quang thuê bao

Hào quang thuê bao

Khi một bức ảnh chụp tại Park Hyatt, khoang thương gia Emirates hay bàn tiệc omakase có thể được mua với giá 15.000 đồng, điều đáng ngạc nhiên không còn là việc người ta nói dối. Con người từ lâu đã nói dối về tuổi tác, gia thế, tài năng và tình yêu. Điều đáng ngạc nhiên là lần đầu tiên trong lịch sử, những lời nói dối ấy được chuẩn hóa thành sản phẩm, niêm yết giá công khai và phân phối với quy mô công nghiệp. Thị trường chỉ đơn giản đáp ứng một nhu cầu có thật: nhu cầu được nhìn thấy như một người khác.

Bảo vệ sở hữu trí tuệ - thay đổi ngành công nghiệp sáng tạo

Bảo vệ sở hữu trí tuệ - thay đổi ngành công nghiệp sáng tạo

Trong bối cảnh vi phạm bản quyền trực tuyến diễn ra với tốc độ báo động và ngày càng tinh vi, Công điện số 38/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ như một tín hiệu mạnh mẽ khẳng định tinh thần thượng tôn pháp luật và cam kết của Việt Nam trong việc siết chặt thực thi quyền sở hữu trí tuệ, với quyết tâm lập lại trật tự trên không gian số và bảo vệ môi trường sáng tạo.

World Cup phá vỡ nỗi sợ hãi ở "thủ phủ Mexico" tại Los Angeles

World Cup phá vỡ nỗi sợ hãi ở "thủ phủ Mexico" tại Los Angeles

Từ nhiều tháng nay, cộng đồng người Mexico ở Huntington Park, Los Angeles liên tục trở thành mục tiêu của các cuộc càn quét do Cơ quan Thực thi di trú và Hải quan Mỹ (ICE) thực hiện. Áp lực nặng nề này, cộng thêm tình trạng lạm phát leo thang, đã đẩy phần lớn cư dân nơi đây vào trạng thái hoảng sợ, buộc họ phải tự giam mình trong nhà và tuyệt đối né tránh các không gian công cộng. Tuy nhiên, ngày hội World Cup 2026 đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo và tâm lý trên các con phố chỉ trong một đêm.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Kỳ 3: Toán Castor và chuyên án PY27

Kỳ 3: Toán Castor và chuyên án PY27

Hơn một tháng sau khi điệp viên đơn tuyến Phạm Chuyên, bí danh Ares xâm nhập miền Bắc bằng đường biển, CIA và Liên đoàn 77 quyết định cho toán gián điệp biệt kích mang biệt danh Castor nhảy dù xuống tỉnh Sơn La. Nhiệm vụ của toán là thu thập tin tức tình báo về hoạt động chuyển quân của Quân đội miền Bắc trên Quốc lộ 6 - con đường chính xuyên qua các tỉnh Tây Bắc đến Tây Nam tỉnh Sầm Nưa (Lào). Tuy nhiên, chỉ 3 ngày sau, cả 4 thành viên đều bị bắt, mở ra chuyên án PY27 của Công an miền Bắc.

Thụy Sỹ tạm tránh được “khoảnh khắc Brexit” của riêng mình

Thụy Sỹ tạm tránh được “khoảnh khắc Brexit” của riêng mình

Ngày 14/6, hơn 59% cử tri Thụy Sĩ đi bỏ phiếu cho cuộc trưng cầu dân ý về đề xuất giới hạn dân số ở mức 10 triệu người vào năm 2050. Gần 55% phản đối, 45% ủng hộ - khoảng cách đủ để ngăn một cuộc va chạm có thể định hình lại quan hệ giữa Bern và Brussels trong nhiều thập niên tới nhưng vẫn còn những bất đồng.

Cuộc chia tay với vị trí trung tâm

Cuộc chia tay với vị trí trung tâm

Một buổi chiều cuối tháng 5/2026, trên mạng xã hội xuất hiện hàng loạt dòng trạng thái của các nhà báo kỳ cựu. Có người chia sẻ lại hình ảnh những tòa soạn từng gắn bó nhiều năm, có người nhắc tên những tờ báo đã trở thành một phần ký ức của đô thị Sài Gòn, cũng có người chỉ lặng lẽ đăng một dấu chấm lửng. Những chia sẻ ngắn ngủi ấy phản ánh tâm trạng của những người đang chứng kiến một bước chuyển quan trọng của báo chí thành phố trong tiến trình sắp xếp, tinh gọn hệ thống cơ quan báo chí.

Vài nghịch lý trong báo chí hiện đại

Vài nghịch lý trong báo chí hiện đại

Trong suốt thời gian vừa qua, báo chí đã trở thành một trong những tâm điểm quan tâm của xã hội. Đầu tiên là câu chuyện sắp xếp lại các cơ quan báo, đài, truyền hình ở các địa phương. Sau đó là những thông tin về việc sẽ xử lý các vi phạm sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí mà điển hình nhất là việc chia sẻ lại các sản phẩm báo chí trên mạng xã hội. Trước đó không lâu, chuyện “báo chí hóa mạng xã hội” cũng đã từng được nhắc tới không ít lần. Tất cả đều cho thấy đang có một dịch chuyển mang tính bước ngoặt đối với báo chí hiện đại Việt Nam hôm nay.

Sợi chỉ vô hình

Sợi chỉ vô hình

Khoảng 5 năm trước, khi bước vào ngôi nhà của một nhân vật cần khai thác cho bài báo dài của mình về chuyên đề biến đổi khí hậu, tôi không nghĩ rằng mình sẽ ám ảnh cho đến tận bây giờ.

Kỳ 2: Điệp viên Ares và Chuyên án BK63

Kỳ 2: Điệp viên Ares và Chuyên án BK63

Tháng 4/1961, sau khi huấn luyện kỹ lưỡng, điệp viên đơn tuyến Phạm Chuyên, bí danh Ares, xâm nhập miền Bắc Việt Nam bằng đường biển, mở màn chiến dịch của CIA đưa gián điệp biệt kích phá hoại miền Bắc. Theo kế hoạch, sau khoảng 1 đến 2 năm, khi đã gây dựng được cơ sở vững và guồng máy hoạt động tốt, Phạm Chuyên có thể chọn người thay thế và trở lại miền Nam. Trong trường hợp bị lộ, Chuyên rút vào rừng trốn, chờ Trung tâm đưa tàu ra đón bằng đường biển…
Nhưng Phạm Chuyên không ngờ mình lại trở thành nhân vật chính trong một chuyên án vô tiền khoáng hậu của lực lượng Công an miền Bắc.

Tôi tin Việt Nam sẽ xây dựng được một ngành công nghiệp điện ảnh thành công

Tôi tin Việt Nam sẽ xây dựng được một ngành công nghiệp điện ảnh thành công

Michael L. Gray là một người viết đã 30 năm gắn bó với Việt Nam, đang hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh, hiện tham gia nhiều dự án cùng các hãng phim và nhà sản xuất tại TP Hồ Chí Minh. Với khán giả điện ảnh Việt Nam, Michael được biết tới qua bút danh Anh Mai, đồng biên kịch phim “Long Ruồi” – bộ phim hài hành động do Charlie Nguyễn đạo diễn, từng trở thành hiện tượng phòng vé năm 2011. Michael hiện đang hoàn thành một tập truyện ngắn bằng tiếng Việt và đồng thời tham gia phát triển nhiều dự án điện ảnh mới.
Trong cuộc trò chuyện với CTV Chuyên đề An ninh thế giới Giữa tháng - Cuối tháng, Michael L. Gray nói nhiều tới cấu trúc kịch bản điện ảnh và tương lai của điện ảnh Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Khi yêu thương biến thành thù hận

Khi yêu thương biến thành thù hận

Đầu năm 2026, liên tiếp các vụ án mạng do ghen tuông, mâu thuẫn tình cảm xảy ra tại Tuyên Quang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Nghệ An… để lại nhiều bi kịch đau lòng. Từ những xung đột tưởng chừng rất nhỏ, nhiều người đã trượt dài trong cơn cuồng ghen, biến yêu thương thành tội ác.

Làm sao có thể “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”?

Làm sao có thể “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”?

Muốn xuất bản một chương trình âm nhạc nghiêm túc, ít nhất riêng phần nhạc cần thuê nhạc sĩ phối khí, dàn nhạc giao hưởng, ban nhạc nhẹ, dàn nhạc dân tộc, ca sĩ, hợp xướng, thu âm, hậu kỳ. Nhìn cấu hình, có thể áng được tiền tỷ theo nhân lực. Dàn nhạc nhẹ có thể chỉ từ 5-10 nhạc công nhưng dàn giao hưởng thì ít cũng khoảng 80 người. Nếu cứ thế thì làng nhạc làm không hết việc. Nhưng, công nghệ đã làm thay đổi tất cả...

Nhạc sĩ trước “đôi thủ” AI

Nhạc sĩ trước “đôi thủ” AI

AI (trí tuệ nhân tạo) ngày càng ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống. Trong sáng tác âm nhạc, AI đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ, từ hỗ trợ nhạc sĩ viết giai điệu đến hòa âm phối khí, thể hiện tác phẩm. AI là một “cộng sự” đắc lực hay mang đến những thách thức với người làm âm nhạc và đâu là dấu ấn cá nhân trong thời đại công nghệ lên ngôi là những vấn đề nhiều người băn khoăn...

Những băn khoăn trước nguy cơ di tích văn hóa Sa Huỳnh bị biến dạng

Những băn khoăn trước nguy cơ di tích văn hóa Sa Huỳnh bị biến dạng

Hơn một thế kỷ nay, kể từ khi được phát hiện năm 1909, văn hóa Sa Huỳnh nói chung và di tích quốc gia đặc biệt Văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) nói riêng được các chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá là một "trầm tích lịch sử sống". Hiện di tích khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh đang hướng tới là Di sản văn hóa thế giới.

Các chuyên gia nói gì về “khu đất vàng” 19 Lê Thánh Tông?

Các chuyên gia nói gì về “khu đất vàng” 19 Lê Thánh Tông?

Đề xuất di dời Trường Đại học Dược Hà Nội, Khoa Hóa học (Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội) để chuyển không gian “Đại học Tổng hợp Hà Nội” tại 19 Lê Thánh Tông thành khu Bảo tàng Đại học thời đại Hồ Chí Minh, là một phương án có trong dự thảo đồ án quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Những ngày qua, thông tin này đã trở thành tâm điểm thu hút dư luận với những luồng ý kiến trái chiều...

Hành trình hồi hương của những phận người lầm lỡ

Hành trình hồi hương của những phận người lầm lỡ

“Việc nhẹ, lương cao”, “thế giới tự do”, “không cần lao động vẫn có cuộc sống sung túc, được bảo lãnh đi định cư tại các nước thứ ba như Mỹ, Canada, Australia”... Đó là những lời dụ dỗ khiến một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tin theo và di cư bất hợp pháp sang Thái Lan mong được “đổi đời”.

Muôn vẻ sáng tác ca khúc theo “đơn đặt hàng”

Muôn vẻ sáng tác ca khúc theo “đơn đặt hàng”

Trong đời sống âm nhạc, nhiều tác phẩm ra đời theo “đơn đặt hàng” hay yêu cầu, mong muốn nào đó không phải là điều xa lạ. Nhưng vượt ra khỏi mục tiêu ban đầu, nhiều tác phẩm đã ghi dấu ấn bền vững trong lòng công chúng. Đơn đặt hàng - tưởng chừng là khuôn khổ - lại giống như chiếc khung để nhạc sĩ vẽ lên những bức tranh âm nhạc sống động và nhiều điều thú vị.

Họa sỹ Trần Đại Thắng: Bước cùng sách từ bờ sông Đà năm ấy

Họa sỹ Trần Đại Thắng: Bước cùng sách từ bờ sông Đà năm ấy

Trần Đại Thắng chưa bao giờ thực sự rời sông Đà. Dòng sông ấy vẫn lững lờ trong từng trang sách anh làm, trong mùi giấy in thoang thoảng, trong cả những đêm khuya anh ngồi viết lại chính đời mình. Từ cậu bé 6 tuổi mê mẩn ngắm những cuốn sách Nga trong một hiệu sách bên kia dòng sông Đà đến người dựng nên Đông A Books, Thắng chỉ làm một việc, giữ cho sách không trở thành một thứ thoáng qua. Cuốn "Tôi kể" dày 500 trang không phải lời kết. Chỉ là một lần nữa, anh lật giở ký ức, để xem tất cả những chi tiết nhỏ bé anh đã dành cả đời chăm chút, liệu có đủ nặng để níu lại một chút gì đó giữa dòng đời đang trôi quá vội.