Văn học biển đảo thế kỉ XXI: Sự thức tỉnh những góc nhìn mới mẻ

Hai mươi năm đầu thế kỉ XXI, tuy không dài về thời gian, nhưng là giai đoạn chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của văn học viết về biển đảo. Có nhiều nguyên do khiến văn học viết về biển đảo giai đoạn này trở thành nhịp mạch quan trọng, sôi nổi và luôn nằm trong mối quan tâm hàng đầu, cả về khát vọng chiếm lĩnh đề tài cũng như thôi thúc tìm đọc của giới nhà văn lẫn công chúng.

Có thể nói, nhờ sự tiếp ứng của internet, văn học viết về biển đảo đã tìm được chỗ đứng thực sự trong lòng bạn đọc giữa lúc thị trường văn học bị phân tán bởi rất nhiều xu hướng sáng tác khác nhau. 

Công chúng đón nhận không vì bản thân tác phẩm có giá trị hay không, mà chủ yếu vì, bằng cách nhắc đến những câu chữ liên quan đến người lính, biển đảo, đến Trường Sa, Hoàng Sa, đến vùng biển vùng trời…, họ được thấy mình đứng trong thời đại, trong muôn triệu người với khí thế và cảm xúc chân thực, thiêng liêng cất cao tiếng nói cá nhân. 

Trường hợp bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” (đăng lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ quân đội tháng 5-2011 nhưng chỉ thực sự gây chú ý trở lại khi nó được lan truyền trên Internet) của Nguyễn Việt Chiến hay hàng ngàn bài thơ ra đời bởi "tình động nhi thì phát" khắp các mạng xã hội vào năm 2014 là những ví dụ sinh động cho thấy không nơi nào rơi vào vòng xoáy im lặng, nhất là trước các vấn đề liên quan đến giang sơn gấm vóc. 

Tuy nhiên, sẽ không thành cao trào nếu biển đảo không là một điểm nóng trong mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước trong khu vực. Những tranh chấp, xung đột trên biển Đông và vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa không chỉ là các sự kiện chính trị, xã hội thuần túy mà còn là "sự kiện tâm hồn" thường trực, luôn tác động rất lớn đến giới văn nghệ sĩ. Vì thế, hễ khi biển Đông dậy sóng thì văn đàn lại xuất hiện đông đảo các tác giả, tác phẩm "nói chí", "tỏ lòng" về một phần máu thịt của Tổ quốc. 

Chẳng hạn, vào tháng 3 năm 1988, khi Trung Quốc chiếm đóng các bãi đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa thì tờ Văn nghệ liên tục cho đăng những vần thơ đau đáu suy tư, cảm xúc và biểu thị cao độ niềm tin vào chính nghĩa (“Tiễn người đi giữ Trường Sa” của Đỗ Trung Lai; “Trường Sa” của Nguyễn Đức Mậu; “Áo giáp Trường Sa” của Tạ Hữu Yên; “Bài ca người chiến sĩ Trường Sa” của Dũng Hiệp; “Lời của cha ông lời của chúng ta” của Nguyễn Hiếu...). 

Hơn hai mươi năm sau, khi Trung Quốc gây hấn trên biển Đông (cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Việt Nam hai lần vào các năm 2011, 2012 và đặc biệt, đặt giàn khoan HD981 trái phép trên vùng biển Việt Nam vào tháng 5/2014) thì ngay lập tức, các diễn đàn văn nghệ đều nhất tề lên tiếng phản đối và đăng tải những sáng tác trên dưới một lòng nhiệt huyết với biển đảo quê hương. 

Chưa bao giờ biển đảo lại thuộc về nhận thức tự thân của người cầm bút như thời gian này. Và cũng chưa bao giờ việc sáng tác về biển đảo lại trở nên cần kíp, thậm chí là một nhiệm vụ cao cả mà giới cầm bút phải thực hiện như vài năm qua. Một truyền thống văn học "tải đạo" và nhanh nhạy phát biểu quan điểm của mình trước các vấn đề quốc gia đại sự đã là lực đẩy ngấm ngầm để văn học về biển đảo có dịp dâng trào hơn trong thời điểm chủ quyền biển của đất nước bị đe dọa.

Nhìn một cách tổng quát, thành tựu văn học viết về biển đảo chủ yếu tập trung ở bút kí (hoặc truyện kí), tiểu thuyết và thơ. Là thể loại có thể giúp độc giả hình dung rõ ràng về cuộc sống chân thực của con người ở biển đảo, kí nhanh chóng được nhiều tác giả lựa chọn. 

Trong hàng trăm bút kí đó, nếu tính đơn vị bài riêng lẻ, có thể nhắc đến một số bút kí đặc sắc: “Trường Sa tháng tư năm hai nghìn” của Lê Thành Nghị; “Hành trình thuận chiều” của Khuất Quang Thụy; “Sóng gió Trường Sa” của Nguyễn Bảo; “Trường Sa, mai vàng mùa gió chướng” của Nguyễn Đình Tú; “Hồn thiêng sóng nước Hoàng Sa” của Lê Mạnh Thường; “Tiếng xuân từ lòng người lính biển” của Nguyễn Mạnh Hùng; “Thổ Châu, xa mà gần” của Nguyễn Tiến Vinh; 

“Tháng Năm ở Trường Sa” của Phạm Duy Nghĩa; “Sóng không chỉ có trong bão giông” của Hồ Anh Mão; “Tôi đặt tên cho các con là Hải và Quân” của Phan Văn Quý; “Cô Lin, đảo nhỏ tiền tiêu” của Trịnh Xuân Tô; “Lỗi hẹn với mùa xuân” của Vũ Đình Sáng; “Xa thắm Trường Sa” của Đỗ Hoàng; “Chuyện kỳ thú ở quần đảo Trường Sa” - một truyện kí nhiều kì của Sương Nguyệt Minh; “Đảo quê hương” của Lưu Thị Bạch Liễu; “Hẹn gặp lại giữa mùa xuân” của Bùi Doanh… 

Được sinh thành từ những chuyến đi thực tế nên "tả thực" và đan cài chất trữ tình-chính luận là nét chủ đạo trong hầu hết các bút kí, truyện kí trên. Tả thực ở đây gần như tái dựng lại những điều mắt thấy tai nghe về cuộc sống của người lính trên những hòn đảo với tên gọi, tọa độ chính xác, với những nhân vật có thực liên quan đến công việc thường ngày, trực tiếp trên đảo mà nhà văn được gặp gỡ, trò chuyện hoặc "ghi theo lời kể"… 

Cứ như vậy, người đọc lần lượt được xem những bức ảnh cận cảnh về Đá Lát, Nam Yết, Trường Sa Lớn, Đá Tây, Trường Sa Đông, Đá Đông, Phan Vinh, Tiên Nữ, Tốc Tan, An Bang, Ba Kè hay nhà giàn DK1- trạm dịch vụ khoa học kĩ thuật trên thềm lục địa… 

Một phần máu thịt Tổ quốc, trong phác họa hết sức chi tiết, trong trạng thái hào hứng được khám phá, được hiển hiện chi li đến gốc gác lai lịch của từng hòn đảo, và những người thật việc thật được "lịch sử hóa". 

Những trang bút kí biển đảo hết sức sâu sắc, hấp dẫn của Khuất Quang Thụy, Trần Đăng Khoa, Đỗ Hoàng, Sương Nguyệt Minh…, đã thực sự góp phần làm nên vị thế của thể kí trong đời sống văn học Việt Nam đương đại.

Về tiểu thuyết, tuy số lượng chưa nhiều, nhưng cũng đã có những tác phẩm đáng kể như “Gió không thổi từ biển” (2004) của Chu Lai; “Biển xanh màu lá” (2008) của Nguyễn Xuân Thủy; “Sóng chìm” (2008) của Đình Kính, “Biển” (2010) của Trương Anh Quốc; “Vùng biển không yên tĩnh” (2014) của Chu Văn Mười; “Lời thề” (2014), tập đầu của bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử về Trường Sa của Nguyễn Quang Vinh… 

Dễ nhận thấy trong các tiểu thuyết trên, sự kết hợp giữa câu chuyện "có thật", mang màu sắc kí, với những hư cấu dựa trên cứ liệu lịch sử. Những âm vang từ lịch sử tiếp xúc và gìn giữ biển của cha ông, qua cái nhìn hôm nay, không chỉ có ý nghĩa tiếp nối mà còn quan trọng hơn là sự khẳng định "sức mạnh mềm" trước các thử thách không dễ vượt qua. 

Xu hướng đi từ cái cụ thể đến tầm khái quát trong các tiểu thuyết trên, có lẽ, sẽ còn được triển khai về sau khi mà sức mạnh hư cấu của người viết đã thắng thế những trì níu của hiện thực. Điều này lí giải vì sao tiểu thuyết viết về biển đảo ở thời điểm hiện tại vẫn đang chờ đợi thêm những nỗ lực sáng tạo về bút pháp nghệ thuật thay vì chỉ tập trung giải quyết bài toán đề tài.

Thơ là thể loại ghi dấu ấn thành công khi viết về biển đảo. Nhiều bài thơ đã thực sự "gây sóng" khi xuất hiện vào thời điểm nước sôi lửa bỏng của biển Đông. 

Đó là trường hợp “Tổ quốc nhìn từ biển” và “Tổ quốc bên bờ biển cả” của Nguyễn Việt Chiến; “Hào phóng thềm lục địa” và “Tòa án biển Đông” của Nguyễn Thanh Mừng; “Mặt trời trong ngôi nhà đầy sóng đầy gió” và “Tiếng chuông chùa giữa đại dương xanh” của Phan Hoàng; “Mộ gió” và “Khát với Hoàng Sa” của Trịnh Công Lộc; “Tổ quốc ba nghìn cây số biển” của Nguyễn Ngọc Phú; “Nghe trẻ hát ở Trường Sa” của Ngô Minh; “Biển Việt” của Đỗ Trọng Khơi; “Tổ quốc gọi tên” của Nguyễn Phan Quế Mai; “Gió nhà giàn” của Nguyễn Quang Hưng… 

Đấy là chưa kể hàng ngàn bài thơ cùng lúc trên khắp các mặt báo, mạng xã hội, nhanh chóng tạo nên hiện tượng "thơ biển đảo" được nhân lên rộng khắp trong tổ chức đoàn thể, các cơ quan ban ngành, trong mọi tầng lớp nhân dân. Nhìn chung, "thơ biển đảo" trước hết là một thái độ chính trị được trữ tình hóa qua các hình tượng nghệ thuật có khả năng bộc bạch những suy nghĩ của người viết về đất nước, chủ quyền và tinh thần bảo vệ biển đảo. 

Hình tượng dân binh, người lính, thành lũy, biên cương, người mẹ - Tổ quốc… xuất hiện với tần số cao như là cách tạo nên sự gắn kết, hô ứng liên tục giữa đất liền và biển cả, giữa những người dân và chiến sĩ hải đảo, giữa truyền thống và hiện tại. Phần lớn các bài thơ đều có giọng điệu hào sảng, khỏe khoắn, giàu âm hưởng tráng ca và sử thi nhờ việc tái sử dụng các tích sử, tích truyền thuyết và đặc biệt là các sự kiện đánh giặc ngoại xâm trên sông nước của cha ông. 

"Thơ biển đảo" tuy chưa có đột phá về bút pháp và đôi khi lặp lại trong cách sử dụng thi liệu nhưng được đón nhận tức thì vì sức mạnh cổ động, lay động của nó. Như vậy, sau một thời gian tạm nhường chỗ cho tiếng nói cá nhân, thơ Việt đương đại lại quay về với nhiệm vụ công dân – "nghệ sĩ trên mặt trận" của mình, mà dòng mạch "thơ biển đảo" là bằng chứng rõ ràng, thuyết phục nhất. 

Một Việt Nam nhìn từ biển trong văn học, như vậy, là sự thay đổi cái nhìn: chuyển từ mô tả đồng bằng/đất liền (gắn với văn hóa nông nghiệp đề cao sự khép kín, tự trị) sang mô tả biển đảo/đại dương (gắn với văn hóa giao thương, đề cao sự năng động và linh hoạt ứng phó mọi tình thế phi truyền thống). Điểm đóng góp quan trọng của văn học biển đảo đầu thế kỉ XXI, theo tôi, là thức tỉnh những cái nhìn mới, khác về lãnh thổ, về căn tính dân tộc vốn tưởng đã vững chắc và mặc định từ lâu.

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.