An Nam trong mắt lữ khách thuở ấy:

Văn chương của ký giả và khảo cứu của khoa học gia

Sức hấp dẫn của An Nam nhiệt đới ở vùng Viễn Đông xa lạ không chỉ làm các kí giả, nhà văn vô cùng sốt sắng mô tả, phản ánh mà còn khiến các nhà nghiên cứu, học giả phải nhanh chóng tiếp cận, diễn giải, đặng đưa ra một tri nhận càng kĩ lưỡng càng tốt cho quá trình cộng sinh văn hóa Pháp - Việt.

Cùng với sự bùng nổ của diễn đàn báo chí, nhất là báo tiếng Pháp, sự xuất hiện của Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) đã trở thành nơi tập trung và công bố khá nhiều nghiên cứu về An Nam trên tất cả các phương diện, từ lịch sử chính trị xã hội cho đến phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng, tính cách tâm lí… Ký giả và học giả, tuy khác nhau hành trạng xuất phát, nhưng đều nỗ lực rút ngắn khoảng cách với chính nơi mà mình muốn thuộc về.

Trên đường cái quan

Thoạt tiên, giới kí giả và nhà văn đặt chân đến An Nam cũng theo sự vụ công việc nhưng rồi, phần vì bản tính ưa phiêu lưu, phần vì xứ sở mà chính quyền thực dân Pháp vẫn đang coi là “man khai” ấy cuốn hút họ không ngừng, nên họ đã dần phải lòng rồi trổ hết tài năng văn chương của mình để diễn tả sao cho đắc địa những gì trải nghiệm, những điều trông thấy.     

Số lượng các kí giả, chuyên hoặc không chuyên, sẽ rất dài nhưng tôi muốn nhắc đến trước tiên 3 vị khách nặng tình nghĩa với An Nam: Léon Werth, Louis Rouband và Roland Dorgelès. Léon Werth (1878-1955), là phóng viên, tiểu thuyết gia và thường được biết là bạn rất thân với Antoine de Saint-Exupéry, tác giả Hoàng tử bé (1943) trứ danh, đã đến Việt Nam vào năm 1925.

Léon Werth chủ yếu du ngoạn ở Sài Gòn, Mỹ Tho, Bạc Liêu và tư liệu chuyến đi gây nhiều ngỡ ngàng ấy đã được ông tái hiện trong cuốn du kí Xứ Nam Kỳ (Cochinchine, 1926).

Không thứ gì tuột khỏi tầm quan sát tinh tế, tỉ mỉ của Léon Werth, nhất là các mùi vị trái cây, thảo mộc, đồ ăn thức uống, những đặc sản mà giờ đây chúng ta đang tích cực giới thiệu ra quốc tế, luôn phảng phất trong trang viết: “Phan Thiết với mùi nước mắm, Phan Thiết với biển Đông, với vùng quê An Nam và những ngọn núi đẹp như hình kim tự tháp […] nước mắm, loại nước xốt làm từ cá, nước mắm thơm mùi linh hồn của cá và biển khơi sâu thẳm.

Điều thú vị là Léon Werth thường so sánh cảnh vật An Nam với quê nhà châu Âu, không phải để khẳng định hơn hay kém, mà để nhận thấy những điểm khác biệt tạo nên đặc sắc nơi đây, ngay cả khi chúng gợi nên vẻ nghèo khó: “Cây cầu bắc qua con kênh ngoằn ngoèo. Quang cảnh như ở vùng Oise nhưng lại ụ lên, cằn cỗi như bị bào mòn bởi một thứ ánh sáng không chiếu thẳng”…

Đến sớm hơn Léon Werth ba năm, Roland Dorgelès (1886-1973) đã có một hành trình dài ngày đi dọc An Nam và viết thiên phóng sự nổi tiếng Trên đường cái quan (Sur la route mandarine, 1922). Có thể coi cuốn sách như thước phim được làm bằng ngôn ngữ tài hoa có khả năng chụp bắt cuộc sống thường ngày mà ngay cả người An Nam cũng khó nhận ra.

“Điều kích thích trí tò mò của tôi - Roland Dorgelès thú nhận, không phải là bí mật của những đền chùa ta thấy khắp nơi, dưới bóng hàng phượng vĩ đỏ rực hoa vào mùa hè, hoặc khuất dưới lũy tre xanh; không phải là cái quá khứ ngàn năm của dân tộc bị cướp quyền này, không hề, mà đó là bí mật hiện tại”.

Chính vì nhìn sâu vào hiện tại nên  Roland Dorgelès mới để tâm nhiều hơn đến những cảnh lao động vất vả, nhọc nhằn, những anh “nhà quê” nhuốm mình trong màu nâu của đất đai và quần áo, những bến sông và chiếc đò ngang trôi dạt phía cuối nguồn, những thửa ruộng nhỏ bé chắt chiu sau bao mùa bồi tích phù sa…

Mang cảm thức của chủ nghĩa lãng mạn, Roland Dorgelès đón nhận sống An Nam theo lối cảm thương lẫn cảm phục nhưng phần nhiều là bay bổng trước những khung cảnh bình dị chưa bị hiện đại hóa trên những cánh ruộng xanh màu ngọc bích, những ngọn núi buồn bã của dãy Tam Điệp, những cánh đồng muối trắng đến lóa mắt, những con đường đỏ quạch dưới hàng cọ, những chợ búa ồn ào tràn ra cả lề đường, những lồng đèn cá chép khổ lớn, những túp lều vui nhộn dưới hàng dừa cao…

Với Roland Dorgelès, An Nam là miền đất tự do của các sắc màu và nhịp điệu, là nơi chốn được thiên nhiên ưu đãi và tự nỗ lực để vui thú với những gì bình dân, quê mùa nhất.

Khác Roland Dorgelès, Louis Rouband (1884-1941) nhập cuộc trực tiếp với các câu chuyện thời sự. Ông đến Việt Nam năm 1930, vào đúng thời điểm diễn ra khởi nghĩa Yên Bái chấn động, trở thành kí giả tường thuật các phiên xử chiến sĩ cách mạng của Hội đồng Đề hình.

Cuốn sách của ông, Việt Nam, tấn bi kịch Đông Dương (Vietnam, la tragédie indochinoise, 1931) tập trung mô tả không khí căng thẳng của xã hội thuộc địa, khi vấn đề thuế, thuốc phiện, rượu lậu hay ý thức phản kháng ngày một lan rộng. Thay vì bảo vệ lợi ích chính quốc, Louis Rouband không ngần ngại thể hiện giọng điệu phê phán mánh lới của chính quyền thực dân và đồng thời bày tỏ thiện cảm với các nhân vật cách mạng như Nguyễn Thái Học hay Phan Bội Châu.

Có thể nói Léon Werth, Louis Rouband và Roland Dorgelès khá điển hình cho kiểu quan sát An Nam từ vị thế “khách tình si” nên không tránh được những cảm xúc hào hứng hoặc thất vọng có phần cường điệu. Nhưng điều này không đồng nghĩa với nghệ thuật hư cấu thuần túy.

Ở thời điểm đầu thế kỉ XX, về cơ bản, mối quan hệ văn chương và dân tộc chí, văn chương và ghi chép phong tục văn hóa, phóng sự xã hội vẫn chưa hề quá tách bạch, vì thế, sẽ rất lí thú, hữu ích khi lật giở lại những trang viết phong nhiêu cả về tư liệu lẫn cảm xúc.

Những học giả tiên phong

Tuần san Indochine số 20 (ra ngày 23/1/1941) có đăng bài viết Đọc gì về Đông Dương? của Georges Bois. Tác giả đã liệt kê một danh mục dài các cuốn sách, công trình khảo cứu Đông Dương, mà trước hết và nhiều nhất, là về Việt Nam.

Đây là một chỉ dẫn đến hôm nay vẫn có thể hữu ích vì mức độ gói gọn, cụ thể, bao quát về đất nước, con người, lịch sử, tôn giáo, văn minh, các đoàn truyền giáo và cả các vấn đề thực tiễn của công cuộc di dân. Nhiều cuốn sách trong danh mục này là kết quả khảo cứu của thành viên Viện Viễn Đông Bác Cổ hoặc của các nhà nghiên cứu “tay ngang”.

Chưa thể đầy đủ nhưng cần thiết nhắc lại ở đây dăm ba trước tác mà hậu thế luôn coi là “phải đọc” khi muốn tìm hiểu Việt Nam, tìm đến giai đoạn định hình Việt Nam trong học thuật phương Tây: Pierre Gourou (1900-1999) với Bắc Kỳ (Le Tonkin, 1931), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (Les paysans du Delta Tonkinois, 1936); E.Tavernier (?-?) với Thờ cúng tổ tiên (Le culte des ancêtres, 1926); Gia đình Việt Nam (La famille annamite, 1927); Charles Maybon (1872-1926) với Ghi chép về lịch sử An Nam (Notions d'histoire d'Annam, 1909), Lịch sử hiện đại của xứ An Nam (1592-1820) (Histoire moderne du pays d'Annam, 1919); George Cœdès (1886 - 1969) với Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa tại Viễn Đông (Histoire ancienne des États hindouisés d'Extrême-Orient, 1944); Paul Mus(1902 - 1969) với Tôn giáo của người An Nam (La religion des Annamites, 1931); G. Cordier (1901-1941) với Nghiên cứu văn chương An Nam (Étude de littérature annamite, 1933); Louis Bezacier (1906-1966) với Các tiểu luận về nghệ thuật An Nam (Essais sur lart annamite, 1943); J. Przyluski (1885-1944) với Ghi chép về tục thờ cây ở Bắc Kỳ (Notes sur le culte des arbres au Tonkin, 1909); Henri Maitre (1883-1914) với Rừng người Thượng (Les Jungles Moi, 1912)...

Có thể thấy, cho đến nửa đầu thập niên 1940, nghiên cứu An Nam đã trở thành một nếp sinh hoạt học thuật phổ biến và được gối tiếp qua vài thế hệ học giả. Những chuyển biến về phương pháp, quan điểm tiếp cận cũng bắt đầu rõ ràng hơn dẫn đến những kết luận đáng suy tư, tham chiếu hơn.

Trong khi giới trí thức bản địa, thực tế là phải từ cuối thập niên 1920 trở đi, với Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Khoan, Trần Văn Giáp,… mới dần công bố những nghiên cứu bằng tiếng Pháp tương đối hiện đại về dân tộc mình thì sự phong phú tiếng nói của các học giả phương Tây chính thức đặt An Nam vào quỹ đạo khoa học xã hội nhân văn của thế giới bấy giờ.

Tính chất chuyên sâu hóa khi tìm hiểu An Nam đã góp phần làm sáng tỏ nhiều nan đề lớn. Chẳng hạn, về các ảnh xạ văn hóa Đông Á và Đông Nam Á trong cấu trúc văn hóa Việt Nam, về đặc trưng của nền văn minh thảo mộc (la civilisation du vétégal), về đạo thờ tổ tiên, về các phong cách trong lịch sử nghệ thuật…

Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, các học giả không hướng tới độc giả đại chúng rộng rãi mà chủ yếu dành cho tầng lớp trí thức Pháp, thúc giục họ nắm vững những từ khóa diễn giải căn cơ về An Nam.

Sự chuyển dịch từ “châu Âu trung tâm luận” sang vùng Viễn Đông thuộc địa, như vậy, đã mở đường cho các dân tộc thuộc “thế giới thứ ba” chứng minh giá trị riêng có của mình. Nếu xung đột, chiến tranh làm gia tăng bất hòa và đối kháng thì khả năng đọc hiểu lẫn nhau đã mở ra không gian đối thoại đúng nghĩa, nơi mà các học giả Pháp đã tìm thấy nghĩa lí cuộc đời trên đất An Nam.

Đến lượt mình, học giả An Nam lúc đó, như Đào Duy Anh hay Nguyễn Văn Huyên, đều coi các nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo quan trọng. Khi viết Văn minh Việt Nam (1939), Nguyễn Văn Huyên thừa nhận ông mang ơn những người tiên phong và được truyền cảm hứng mạnh mẽ bởi nhiều học giả lỗi lạc như J. Przyluski, Paul Mus, George Cœdès, Louis Finot...

Đáng tiếc, theo  thời gian, di sản học thuật của họ đang dần co hẹp trong những phạm vi nhỏ, nơi đa số chúng ta chỉ biết phong thanh.

* Đón đọc kỳ 3: Từ cảnh quan thiên nhiên đến địa lý nhân văn

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.