An Nam trong mắt lữ khách thuở ấy:

Văn chương của ký giả và khảo cứu của khoa học gia

Sức hấp dẫn của An Nam nhiệt đới ở vùng Viễn Đông xa lạ không chỉ làm các kí giả, nhà văn vô cùng sốt sắng mô tả, phản ánh mà còn khiến các nhà nghiên cứu, học giả phải nhanh chóng tiếp cận, diễn giải, đặng đưa ra một tri nhận càng kĩ lưỡng càng tốt cho quá trình cộng sinh văn hóa Pháp - Việt.

Cùng với sự bùng nổ của diễn đàn báo chí, nhất là báo tiếng Pháp, sự xuất hiện của Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) đã trở thành nơi tập trung và công bố khá nhiều nghiên cứu về An Nam trên tất cả các phương diện, từ lịch sử chính trị xã hội cho đến phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng, tính cách tâm lí… Ký giả và học giả, tuy khác nhau hành trạng xuất phát, nhưng đều nỗ lực rút ngắn khoảng cách với chính nơi mà mình muốn thuộc về.

Trên đường cái quan

Thoạt tiên, giới kí giả và nhà văn đặt chân đến An Nam cũng theo sự vụ công việc nhưng rồi, phần vì bản tính ưa phiêu lưu, phần vì xứ sở mà chính quyền thực dân Pháp vẫn đang coi là “man khai” ấy cuốn hút họ không ngừng, nên họ đã dần phải lòng rồi trổ hết tài năng văn chương của mình để diễn tả sao cho đắc địa những gì trải nghiệm, những điều trông thấy.     

Số lượng các kí giả, chuyên hoặc không chuyên, sẽ rất dài nhưng tôi muốn nhắc đến trước tiên 3 vị khách nặng tình nghĩa với An Nam: Léon Werth, Louis Rouband và Roland Dorgelès. Léon Werth (1878-1955), là phóng viên, tiểu thuyết gia và thường được biết là bạn rất thân với Antoine de Saint-Exupéry, tác giả Hoàng tử bé (1943) trứ danh, đã đến Việt Nam vào năm 1925.

Léon Werth chủ yếu du ngoạn ở Sài Gòn, Mỹ Tho, Bạc Liêu và tư liệu chuyến đi gây nhiều ngỡ ngàng ấy đã được ông tái hiện trong cuốn du kí Xứ Nam Kỳ (Cochinchine, 1926).

Không thứ gì tuột khỏi tầm quan sát tinh tế, tỉ mỉ của Léon Werth, nhất là các mùi vị trái cây, thảo mộc, đồ ăn thức uống, những đặc sản mà giờ đây chúng ta đang tích cực giới thiệu ra quốc tế, luôn phảng phất trong trang viết: “Phan Thiết với mùi nước mắm, Phan Thiết với biển Đông, với vùng quê An Nam và những ngọn núi đẹp như hình kim tự tháp […] nước mắm, loại nước xốt làm từ cá, nước mắm thơm mùi linh hồn của cá và biển khơi sâu thẳm.

Điều thú vị là Léon Werth thường so sánh cảnh vật An Nam với quê nhà châu Âu, không phải để khẳng định hơn hay kém, mà để nhận thấy những điểm khác biệt tạo nên đặc sắc nơi đây, ngay cả khi chúng gợi nên vẻ nghèo khó: “Cây cầu bắc qua con kênh ngoằn ngoèo. Quang cảnh như ở vùng Oise nhưng lại ụ lên, cằn cỗi như bị bào mòn bởi một thứ ánh sáng không chiếu thẳng”…

Đến sớm hơn Léon Werth ba năm, Roland Dorgelès (1886-1973) đã có một hành trình dài ngày đi dọc An Nam và viết thiên phóng sự nổi tiếng Trên đường cái quan (Sur la route mandarine, 1922). Có thể coi cuốn sách như thước phim được làm bằng ngôn ngữ tài hoa có khả năng chụp bắt cuộc sống thường ngày mà ngay cả người An Nam cũng khó nhận ra.

“Điều kích thích trí tò mò của tôi - Roland Dorgelès thú nhận, không phải là bí mật của những đền chùa ta thấy khắp nơi, dưới bóng hàng phượng vĩ đỏ rực hoa vào mùa hè, hoặc khuất dưới lũy tre xanh; không phải là cái quá khứ ngàn năm của dân tộc bị cướp quyền này, không hề, mà đó là bí mật hiện tại”.

Chính vì nhìn sâu vào hiện tại nên  Roland Dorgelès mới để tâm nhiều hơn đến những cảnh lao động vất vả, nhọc nhằn, những anh “nhà quê” nhuốm mình trong màu nâu của đất đai và quần áo, những bến sông và chiếc đò ngang trôi dạt phía cuối nguồn, những thửa ruộng nhỏ bé chắt chiu sau bao mùa bồi tích phù sa…

Mang cảm thức của chủ nghĩa lãng mạn, Roland Dorgelès đón nhận sống An Nam theo lối cảm thương lẫn cảm phục nhưng phần nhiều là bay bổng trước những khung cảnh bình dị chưa bị hiện đại hóa trên những cánh ruộng xanh màu ngọc bích, những ngọn núi buồn bã của dãy Tam Điệp, những cánh đồng muối trắng đến lóa mắt, những con đường đỏ quạch dưới hàng cọ, những chợ búa ồn ào tràn ra cả lề đường, những lồng đèn cá chép khổ lớn, những túp lều vui nhộn dưới hàng dừa cao…

Với Roland Dorgelès, An Nam là miền đất tự do của các sắc màu và nhịp điệu, là nơi chốn được thiên nhiên ưu đãi và tự nỗ lực để vui thú với những gì bình dân, quê mùa nhất.

Khác Roland Dorgelès, Louis Rouband (1884-1941) nhập cuộc trực tiếp với các câu chuyện thời sự. Ông đến Việt Nam năm 1930, vào đúng thời điểm diễn ra khởi nghĩa Yên Bái chấn động, trở thành kí giả tường thuật các phiên xử chiến sĩ cách mạng của Hội đồng Đề hình.

Cuốn sách của ông, Việt Nam, tấn bi kịch Đông Dương (Vietnam, la tragédie indochinoise, 1931) tập trung mô tả không khí căng thẳng của xã hội thuộc địa, khi vấn đề thuế, thuốc phiện, rượu lậu hay ý thức phản kháng ngày một lan rộng. Thay vì bảo vệ lợi ích chính quốc, Louis Rouband không ngần ngại thể hiện giọng điệu phê phán mánh lới của chính quyền thực dân và đồng thời bày tỏ thiện cảm với các nhân vật cách mạng như Nguyễn Thái Học hay Phan Bội Châu.

Có thể nói Léon Werth, Louis Rouband và Roland Dorgelès khá điển hình cho kiểu quan sát An Nam từ vị thế “khách tình si” nên không tránh được những cảm xúc hào hứng hoặc thất vọng có phần cường điệu. Nhưng điều này không đồng nghĩa với nghệ thuật hư cấu thuần túy.

Ở thời điểm đầu thế kỉ XX, về cơ bản, mối quan hệ văn chương và dân tộc chí, văn chương và ghi chép phong tục văn hóa, phóng sự xã hội vẫn chưa hề quá tách bạch, vì thế, sẽ rất lí thú, hữu ích khi lật giở lại những trang viết phong nhiêu cả về tư liệu lẫn cảm xúc.

Những học giả tiên phong

Tuần san Indochine số 20 (ra ngày 23/1/1941) có đăng bài viết Đọc gì về Đông Dương? của Georges Bois. Tác giả đã liệt kê một danh mục dài các cuốn sách, công trình khảo cứu Đông Dương, mà trước hết và nhiều nhất, là về Việt Nam.

Đây là một chỉ dẫn đến hôm nay vẫn có thể hữu ích vì mức độ gói gọn, cụ thể, bao quát về đất nước, con người, lịch sử, tôn giáo, văn minh, các đoàn truyền giáo và cả các vấn đề thực tiễn của công cuộc di dân. Nhiều cuốn sách trong danh mục này là kết quả khảo cứu của thành viên Viện Viễn Đông Bác Cổ hoặc của các nhà nghiên cứu “tay ngang”.

Chưa thể đầy đủ nhưng cần thiết nhắc lại ở đây dăm ba trước tác mà hậu thế luôn coi là “phải đọc” khi muốn tìm hiểu Việt Nam, tìm đến giai đoạn định hình Việt Nam trong học thuật phương Tây: Pierre Gourou (1900-1999) với Bắc Kỳ (Le Tonkin, 1931), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (Les paysans du Delta Tonkinois, 1936); E.Tavernier (?-?) với Thờ cúng tổ tiên (Le culte des ancêtres, 1926); Gia đình Việt Nam (La famille annamite, 1927); Charles Maybon (1872-1926) với Ghi chép về lịch sử An Nam (Notions d'histoire d'Annam, 1909), Lịch sử hiện đại của xứ An Nam (1592-1820) (Histoire moderne du pays d'Annam, 1919); George Cœdès (1886 - 1969) với Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa tại Viễn Đông (Histoire ancienne des États hindouisés d'Extrême-Orient, 1944); Paul Mus(1902 - 1969) với Tôn giáo của người An Nam (La religion des Annamites, 1931); G. Cordier (1901-1941) với Nghiên cứu văn chương An Nam (Étude de littérature annamite, 1933); Louis Bezacier (1906-1966) với Các tiểu luận về nghệ thuật An Nam (Essais sur lart annamite, 1943); J. Przyluski (1885-1944) với Ghi chép về tục thờ cây ở Bắc Kỳ (Notes sur le culte des arbres au Tonkin, 1909); Henri Maitre (1883-1914) với Rừng người Thượng (Les Jungles Moi, 1912)...

Có thể thấy, cho đến nửa đầu thập niên 1940, nghiên cứu An Nam đã trở thành một nếp sinh hoạt học thuật phổ biến và được gối tiếp qua vài thế hệ học giả. Những chuyển biến về phương pháp, quan điểm tiếp cận cũng bắt đầu rõ ràng hơn dẫn đến những kết luận đáng suy tư, tham chiếu hơn.

Trong khi giới trí thức bản địa, thực tế là phải từ cuối thập niên 1920 trở đi, với Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Khoan, Trần Văn Giáp,… mới dần công bố những nghiên cứu bằng tiếng Pháp tương đối hiện đại về dân tộc mình thì sự phong phú tiếng nói của các học giả phương Tây chính thức đặt An Nam vào quỹ đạo khoa học xã hội nhân văn của thế giới bấy giờ.

Tính chất chuyên sâu hóa khi tìm hiểu An Nam đã góp phần làm sáng tỏ nhiều nan đề lớn. Chẳng hạn, về các ảnh xạ văn hóa Đông Á và Đông Nam Á trong cấu trúc văn hóa Việt Nam, về đặc trưng của nền văn minh thảo mộc (la civilisation du vétégal), về đạo thờ tổ tiên, về các phong cách trong lịch sử nghệ thuật…

Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, các học giả không hướng tới độc giả đại chúng rộng rãi mà chủ yếu dành cho tầng lớp trí thức Pháp, thúc giục họ nắm vững những từ khóa diễn giải căn cơ về An Nam.

Sự chuyển dịch từ “châu Âu trung tâm luận” sang vùng Viễn Đông thuộc địa, như vậy, đã mở đường cho các dân tộc thuộc “thế giới thứ ba” chứng minh giá trị riêng có của mình. Nếu xung đột, chiến tranh làm gia tăng bất hòa và đối kháng thì khả năng đọc hiểu lẫn nhau đã mở ra không gian đối thoại đúng nghĩa, nơi mà các học giả Pháp đã tìm thấy nghĩa lí cuộc đời trên đất An Nam.

Đến lượt mình, học giả An Nam lúc đó, như Đào Duy Anh hay Nguyễn Văn Huyên, đều coi các nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo quan trọng. Khi viết Văn minh Việt Nam (1939), Nguyễn Văn Huyên thừa nhận ông mang ơn những người tiên phong và được truyền cảm hứng mạnh mẽ bởi nhiều học giả lỗi lạc như J. Przyluski, Paul Mus, George Cœdès, Louis Finot...

Đáng tiếc, theo  thời gian, di sản học thuật của họ đang dần co hẹp trong những phạm vi nhỏ, nơi đa số chúng ta chỉ biết phong thanh.

* Đón đọc kỳ 3: Từ cảnh quan thiên nhiên đến địa lý nhân văn

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?