U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường

Trên bước đường mở cõi về phương Nam, lưu dân người Việt thuở ấy còn gian nan, khổ cực hơn cả tội nhân “lưu viễn” chịu tội “lưu hình”… Ý nghĩa sâu sắc nhất của cụm từ “thị quá sơn trường” chính là vậy.

Một khi đã tìm về ca dao, tục ngữ, lời ăn tiếng nói của người miền Nam, thể nào ta cũng bắt gặp hình ảnh con cá sấu, con cọp, chẳng hạn:

U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường

Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua

Ở câu bát, còn có ít nhất 2 đị bản như:

Ðường đi Rạch Giá thị quá sơn trường

Gió rung bông sậy, dạ buồn nhớ ai

Ðường đi Rạch Giá thị quá sơn trường

Hai bên đế rợp, mà điệu cang thường phải đi

Đọc “Hồi ký Sơn Nam” (Nhà xuất bản Trẻ - 2015), ta biết tác giả là người quê gốc nhiều đời ở U Minh - Rạch Giá và ông cho biết: “Câu hát nói trên, tôi từng nghe hồi nhỏ. Phía Hậu Giang (Rạch Giá) hồi nhỏ tôi ở với cha mẹ, sau khi con kênh Hà Tiên - Rạch Giá đào xong, mùa nước lụt, sấu ở sông Hậu từ Campuchia tràn xuống. Nhiều đám cưới bị sấu chặn đón. Phen đó, sấu tràn về, dân làng còn thưa thớt tiếp sức nhau gây tiếng động để xua đuổi, nào đập vào bộ ván ngựa, đánh trống.

Trong làng chỉ có cây súng nhỏ để xua đuổi trộm cướp tới lui trong vùng rừng tràm. Sấu trồi đầu lên, lặn xuống, lát sau lại trồi đầu. Súng nổ ba bốn lần, sấu chìm xuống kênh đào rồi trồi lên, quơ quào lúc hấp hối. Dân làng bơi xuồng đến, bắt con sấu bị thương ấy đưa lên bờ. Mổ bụng nó ra, thấy nào là tóc người, nào chiếc vòng, đôi nhẫn vàng. Quả là từ lâu sấu đã ăn thịt người, đoán chừng vàng, nhẫn của đám cưới nào đó đã đi qua mùa nước lụt, năm nào. Đám cưới đã trở thành đám tang” (tr. 488).

Không những thế, thời xa xưa đó, lưu dân miền Nam còn nghĩ ra cách câu cá sấu. Chi tiết này, có thể tìm thấy trong bộ sử liệu Gia Định thành thông chí (Nhà xuất bản Giáo Dục - 1999, bản dịch của Viện Sử học) của Trịnh Hoài Đức. Đoạn mô tả sinh động này, nếu thực hiện bằng nghệ thuật thứ bảy ắt ta được xem nhưng thước phim cực kỳ hồi hộp, hấp dẫn, lôi cuốn: “Lại có nhiều cá sấu, cọp dữ nhưng dân ở đây đã quen, không sợ hãi, dù trẻ con đàn bà có thể cầm cái liềm cắt cỏ, cái hái cắt lúa mà bắt con cọp được. Năm trước sông Tiên Thủy có con cá sấu to 5 ôm dài 6 trượng, thường đón thuyền đi qua, quật ngã người cầm chèo, hoặc làm ụp thuyền để bắt người mà ăn gọi là “ông rồng”.  Người ta dùng trăm cách khu trừ mà không thể được.

Có người làm nghề câu, lấy lưỡi câu sắt lớn, móc con vịt sống, lấy dây song to xỏ vào dưới lưỡi câu mà buột chặt lại, tay cầm con vịt, xuống sông bơi lội để nhử cá sấu khiến nó đuổi theo. Cá sấu vốn không có mang, ở dưới nước không dám há mồm mà đuôi để quật cũng không dùng được, người làm nghề đã biết lắm rồi, nhân vờn nhau với cá sấu, đợi khi nào mình cá sấu lên gần mặt nước, lúc há mồm ra để ăn thì thừa cơ nhét con vịt vào trong mồm cá. Cá sấu nuốt xuống thì người ấy mới lặn vào bờ sông đem rút dây lại, xúm vào đâm giết chết, thế là mới tuyệt được mối hại ấy. Các việc tài giỏi của người làm nghề ấy, người các nước nghe cũng phải ghê” (tr. 151).     

Không phải ngẫu nhiên, cọp và sấu xuất hiện trong câu ca dao vừa nêu. Vì rằng, đây là một trong những chi tiết cần thiết nếu ta muốn tìm hiểu từ “thị quá sơn trường”. Này, cô Hai ơi, giải thích thế nào nhỉ? Ừ, trước khi giải thích, xin nhắc lại rằng, khi viết “Văn minh miệt vườn” (Nhà xuất bản Văn hóa - 1992), nhà văn Sơn Nam cho biết câu này chính là “mô phỏng theo:

Xứ đâu thị tứ bằng xứ Sài Gòn

Dưới sông tàu chạy, trên bờ ngựa đua.

Còn có thể kể thêm:

Xứ đâu thị tứ bằng xứ Kinh Cùng

Tràm xanh củi lục anh hùng thiếu chi.

Có văn bản ghi “củi lụt”, thật ra phải là “củi lục”: “Cây giũ vỏ, trày trày không khi mục”, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) giải thích, tức loại gỗ tốt, có thế mới xứng với “tràm xanh”, chứ không phải loại trôi dạt, trôi nổi ất ơ sau khi lụt.  So sánh hai câu “U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường/ Xứ đâu thị tứ bằng xứ Sài Gòn”, ta thấy cùng xuất hiện từ thị: thị quá/ thị tứ, vậy, liệu chúng có dây mơ rễ má, có liên hệ gì với nhau không?

Trước hết, ta hãy xét thị tứ là gì? “Hán - Việt tân tự điển” của Nguyễn Quốc Hùng cho biết thị có nhiều nghĩa và giải thích: “Thị tứ: Quán hoặc cửa tiệm bán hàng ở chợ. Chợ và tiệm bán hàng, chỉ nơi buôn bán đông đúc”. Vậy, thị trong cụm từ “thị quá” là sao? Là “Thiệt, phải, ấy”, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) cho biết. Từ đó, ta suy luận ra “thị quá” nghĩa là gì?

Theo “Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam Bộ” (Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ - 2017) của tiến sĩ Huỳnh Công Tín thì từ “thị quá”: “Trong trường hợp này, phải là “thật quá”, cách nói Nam Bộ là “thiệt quá”, với nghĩa chung: đích thị, quả đúng như thế; tương đương: “thật là, như là, quả là…”. Tất nhiên trong câu ca dao có sự biến âm “thật” thành “thiệt”, rồi “thiệt” thành “thị”... Tóm lại câu ca dao trên có nghĩa: “U Minh, Rạch Giá quả là (thiệt quá = thị quá) một chốn núi rừng” (tr. 317).

Hiểu như thế này có đúng?

Hạ hồi phân giải. Nay, ta hãy xét từ “quá” trong “thị quá”. Ở ngữ cảnh này, quá không chỉ là từ nhấn mạnh nhằm khẳng định thêm một lần nữa như cách giải thích “thật là, như là, quả là” - mà còn phải hiểu theo nghĩa dù đã như thế nhưng sự vật/ sự việc đó vẫn chưa dừng lại đó, còn hơn cả thế nữa. Nói cách khác, thiệt/ thật quá còn chỉ mức độ cao hơn thiệt/ thật. Cách nói này, rất quen thuộc và phổ biến nhiều vùng miền, thí dụ Quảng Nam có câu “Lý sự quá Phan Khôi” là hiểu từ “quá” theo nghĩa này. Ông Phan Khôi lý sự đã ghê gớm nhưng có người còn cao hơn nữa, chứ không ngang cơ, ngang tầm, ngang cỡ với Phan Khôi; còn nếu muốn so sánh phải là “Lý sự như Phan Khôi”. Tương tự, ta hãy xét câu nói: “Ối dào, X ta ăn quá hổ đói” là chỉ mức độ ăn của X đã vượt hẳn “Ăn như hổ đói” mà tục ngữ đã ghi nhận v.v…

Với vị trí của từ “quá/ thị quá” độc đáo trong câu ca dao này, ta thấy rằng không thể hiểu: “U Minh, Rạch Giá quả là (thiệt quá = thị quá) một chốn núi rừng”. Mà trong ngữ cảnh này, người xưa khẳng định U Minh, Rạch Giá quả là/ thiệt là còn hơn cả thế nữa. Hơn cái gì? Muốn biết, ta phải tìm hiểu nghĩa của từ “sơn trường”, chứ giải thích “quả là chốn núi rừng” là không đúng, là không phản ánh hết ý nghĩa sâu sắc của câu ca dao này.

U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường -0
Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang Ảnh: S.t

Đọc lại “Lịch triều hiến chương loại chí” (Nhà xuất bản Khoa học - Xã hội - 1992)  của Phan Huy Chú, phần “Hình luật chí”, ta có thể biết được các hình phạt từ đời vua Lê Thánh Tôn. Đại khái trong các tội, có tội lưu hình (đày phát vãng): “Năm 1474, tháng 4, có sắc chỉ rằng tù xử tội lưu, đi cận châu thì sung vệ quân ở Thăng Hoa, đi ngoại châu thì sung vệ quân ở Tư Nghĩa, đi viễn châu thì sung vệ quân ở Hoài Nghĩa” (tr. 292). Theo phân vùng địa lý hiện nay, ta có hiểu nôm na họ bị đày đi Quảng Nam, Quảng Ngãi và Quy Nhơn. Tùy tội nặng nhẹ, các tội nhân đó đều bị đánh từ 90 đến 100 trượng, thích (xăm) từ 6 đến 10 chữ vào mặt, đeo xiềng từ một đến ba vòng, bị giam giữ và phục dịch (tr. 306). Những tội nhân này khi đến nơi chó ăn đá gà ăn sỏi, đèo heo hút gió, sơn lam chướng khí, họ lập ra các sơn trường. Nói cách khác “sơn trường” chính là đồn điền tại vùng rừng núi xa xôi do tội nhân “lưu hình” khai khẩn đất hoang làm nên.

Vậy, “U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường” là câu nói của lưu dân thời khẩn hoang cho biết nơi này thiệt/ quả thiệt cực khổ còn cả hơn cả sơn trường nữa, bằng chứng: “Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”. Về sấu và cọp, nhìn chung đã có nhiều tài liệu đã nghiên cứu, không bàn nữa. Nay, chỉ bổ sung thêm vài chi tiết khác để làm rõ hơn cái nghĩa “thị quá sơn trường”.

Rằng, thí dụ ngay cả lúc lìa đất xa trời những tưởng là xong, là mồ yên mả đẹp, không đâu, còn phải nhiêu khê chán. Hồi ký của nhà văn Sơn Nam có kể vài cảnh đau lòng trong mùa lụt: “Vài đứa bé vô ý rơi xuống, nước đang ngập vào nhà, lập tức bị cuốn trôi giữa khu vực trước kia là đồng ruộng nhưng lũ đã phủ lên đôi ba mét, chảy cuồn cuộn. Chọn cái khạp đựng gạo hoặc cái lu (chum, vại to) liệm vào với quần áo, chiếu. Nạn nhân dĩ nhiên gần như ngồi trong khạp, co chân lại, hai tay khó thẳng. Rồi đậy nắp lại, trét xi măng. Đặt cái khạp ấy không xa nhà cho lắm để dễ bề canh chừng, sợ nó trôi mất, và cha mẹ cũng chẳng muốn rời đứa con đã mất nhưng còn đó.

Tìm bốn năm cây tràm nhỏ cắm chung quanh để rào cái khạp với mớ dây kẽm, nhờ vậy cái quan tài tròn, ngộ nghĩnh nổi lên rồi hạ thấp xuống tùy theo mưa nhiều ít từ thượng nguồn, không bao giờ chao đảo, lắc lư, hy vọng rằng đứa bé được yên thân, không trăn trở, "nghiêng mình" tức là không giữ được "tư cách" vì người chết vẫn là người sống. "Lòng đây tưởng đó mất như còn" (Đồ Chiểu), mặc dầu lúc sống chưa làm được điều gì đáng kể… Khi nước giựt xuống, cha mẹ sẽ đem chôn kín dưới đất. Rồi mùa nắng, mùa lụt năm sau, bông điên điển hoang dã sẽ trổ vàng ngời soi bóng nước từ đầu nguồn tuôn về.

Nạn nhân của lũ lụt nếu lớn tuổi hơn thì chôn trong cái quan tài, gọi là như vậy cho khỏi tủi thân, chỉ là mấy tấm ván mỏng, ghép lại. Người chết mặc nhiên được lau chùi sạch sẽ, khô ráo, mặc quần áo tươm tất, nằm với tư thế đứng đắn nhất là xuôi tay, xuôi chân, mặt nhìn ngửa lên trời, phải phun rượu để uốn nắn lại trong trường hợp tay chân co quắp. Ngày nay có những loại bao ny-lông to và dài theo ni tấc của người lớn, bỏ vào bao, gìn giữ được mùi hôi rữa, đặt vào quan tài, thêm nhiều mảnh nilon rồi đưa ra khỏi nhà, không quá xa để canh chừng.

Giữa trời nước bao la, sóng trào nước xoáy, cứ xốc bốn cây chỏi như hình chữ X, treo lên cao; bên dưới, làm thêm một cái sàn để quan tài dựa vào, đề phòng khi giông gió khiến quan tài rơi xuống đáy nước. Trên nóc quan tài, làm kiểu mái nhà, bằng vải nhựa dẻo. Chưa hết. Ngày nay lắm nơi bố trí hai cái ống tre, hoặc ống nhựa cắm bên quan tài, đựng gạo và muối, tượng trưng cho lương thực, thực phẩm cần yếu cho người quá cố; vì còn bối rối, thân nhân không thể nào cúng dường dịp một tuần đầu, hai tuần đầu và cúng 100 ngày. Như việc tống táng với lương thực của người dân tộc trên Cao nguyên” (tr.16-18).

Nhà văn Sơn Nam sinh năm 1926 còn chứng kiến, chứ huống gì thuở xa xưa lúc lưu dân Việt lần đầu đến nơi này. Không những đương đầu với thú dữ, thiên tai dịch họa mà còn phải nhọc nhằn đổ mồ hôi sôi nước mắt khẩn hoang, trồng trọt, dựng nhà, lập vườn… bằng mọi cách phải tồn tại cho bằng được. Phải tồn tại. Không thể nào khác.

Lịch sử đã chứng minh sinh động về tài trí dữ dội, mưu sinh khốc liệt và tồn tại oanh liệt của người Việt thuở ấy. Theo khảo sát của tôi, từ “thị quá” chỉ xuất hiện đôi lần trong ca dao. Điều này, cho phép ta đặt vấn đề, nếu đã là lời ăn tiếng nói chung thì nó phải phổ biến rộng rãi chứ? Sở dĩ trái lại có lẽ vì lý do mà theo Sơn Nam: “Thị quá là danh từ trong văn chương hát bội” (tr. 174). Nếu đúng vậy, thêm một lần nữa, ta thấy loại hình nghệ thuật này là thú giải trí của bà con miền Nam thời khẩn hoang, trước khi cải lương ra đời.

Tóm lại, khi đọc câu ca dao du dương vần điệu này nhưng nếu hiểu rõ thêm ngữ nghĩa của nó, ta sẽ thấy ẩn trong đó biết bao mồ hôi, nước mắt, xương máu mà lớp người đi trước đã gửi gắm cho thế hệ sau. Rằng, trên bước đường mở cõi về phương Nam, lưu dân người Việt thuở ấy còn gian nan, khổ cực hơn cả tội nhân “lưu viễn” chịu tội “lưu hình”… Ý nghĩa sâu sắc nhất của cụm từ “thị quá sơn trường” chính là vậy.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.