Trần Huyền Trân: Khói lửa bốc hoa tay kẻ sĩ

Thi sĩ Trần Huyền Trân là nhân vật cuối cùng được Hoài Thanh – Hoài Chân “mời” vào chiếc chiếu “Thi nhân Việt Nam” sang trọng. Thế nhưng, thi sĩ Trần Huyền Trân chỉ được nhắc với đôi lời trân trọng mà không hề được trích một tác phẩm nào. Có lẽ, thời điểm ấy chân dung sáng tạo của Trần Huyền Trân chưa rõ nét.

Còn bây giờ, khi thời gian nghiêm khắc đặt mỗi cá nhân trở lại đúng vị trí, thì công chúng lại thấy Trần Huyền Trân là thi sĩ tiêu biểu nhất viết về sự thay đổi của thân phận người Việt trước và sau cột mốc 2-9-1945!

Mồ côi cha rất sớm, cậu thiếu niên Trần Đình Kim lăn lộn với đời để mưu sinh và để giúp mẹ nuôi em. Địa danh Cống Trắng mà Trần Huyền Trân thường viết thêm như một thứ lạc khoản cho mỗi bài thơ, chính là ngõ Văn Chương trên phố Khâm Thiên ngày nay. Tuy nhiên, thuở đó Cống Trắng chỉ quần cư những kẻ nghèo khó, và chính người mẹ đáng kính của Trần Huyền Trân cũng sống bằng nghề đánh giậm. 

Hơn một lần, Trần Huyền Trân nhắc đến Cống Trắng bằng tất cả niềm thương cảm: “Tôi ở lều tranh Cống Trắng này. Chạnh lòng cá nhảy với chim bay. Đêm sầu kẽo kẹt ngư bà thức. Giăng phải hồn tôi một lưới đầy” và “Tôi về lều Cống Trắng. Với chiếc vó mẹ già. Văn chương càng cay đắng. Không nịnh hót ai mua?”.

Ngay tại phố Khâm Thiên nhiều gắn bó, bút danh Trần Huyền Trân đã xuất hiện. Cưu mang một cô gái họ Trần bất hạnh mang thai không được thừa nhận, gã lãng tử nhân hậu Trần Đình Kim đã chăm sóc cho mẹ tròn con vuông và đặt tên cho đứa trẻ là Trần Huyền Trân. Hai chữ Huyền Trân không phải bắt chước mỹ hiệu của một giai nhân, mà Huyền Trân cũng là Trần. 

Nghĩa là đứa trẻ được xác lập con chính thức của hai người họ Trần, như cách ông viết trong bài Cái thai hoang nhọc nhằn và tử tế: “Nào khác chi đời mẹ của con/ Ép khuôn cười khóc để người buôn/ Một đêm chung chạ bao hơi hướm/ Đến rạng mai ngày nát phấn son/ Thôi nói làm chi căm hận ta/ Đủ ngày gọi cửa mẹ con ra/ Mẹ con một kiếp vô thừa nhận/ Con cứ tìm ta: con với cha!”.

Bút danh Trần Huyền Trân còn gắn bó với phố Khâm Thiên ở một bài thơ nữa, đó là Sầu chung viết tặng nghệ sĩ Quách Thị Hồ. Người đàn bà hát xẩm tài hoa chìm nổi bước vào thơ Trần Huyền Trân như một tiếng thương và cũng như một tiếng đau: “Người ơi, mưa đấy hay xênh phách/ Tay yếu gieo lòng xuống chiếu hoa”.

Diện mạo của thi sĩ Trần Huyền Trân nước da bánh mật, cặp mày xếch và ánh mắt thăm thẳm, ngay những ngày đầu đến với cách mạng đã được Nguyễn Đình Thi cảm nhận “nét mặt như của một người nơi ruộng đồng và nụ cười không ồn ào”. Khác với vẻ ngoài hắt hiu, trái tim Trần Huyền Trân ấm áp bởi câu thơ đầy sẻ chia với những cuộc đời lầm lũi. 

Thi sĩ Trần Huyền Trân qua nét vẽ của Hoàng Lập Ngôn.
Thi sĩ Trần Huyền Trân qua nét vẽ của Hoàng Lập Ngôn.

Những dề rau muống cũng có nét duyên riêng khi Trần Huyền Trân gọi nó là rau tần: “Mây bay trắng lá rau tần/ Thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa/ Có người về khép song thưa/ Để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng”. 

Không gian sống ngỡ chừng ảm đạm cũng được Trần Huyền Trân phả vào sự mát lành trong trẻo: “Gió ngớt khua lau dưới gậm cầu/ Người về xóm lạnh bước thôi mau/ Ngõ hoang đã nở dăm màu bướm/ Đây lúc đôi mùa đưa tiễn nhau”. Ngay cả khi rời xa Cống Trắng, cảnh nghèo vẫn dâng đầy trong Trần Huyền Trân niềm lưu luyến: “Lá ơi từ độ lên đường/ Áo xanh đã mấy mùa sương bạc rồi!/  Có ai thấy lá vườn tôi/ Đốt giùm cho khói lên trời tôi trông!”.

Không từ nan bất kỳ nghề gì để tồn tại, Trần Huyền Trân thấu hiểu nỗi cơ cực của những trí thức khi dân tộc lầm than: “Đã có lần khói bếp không lên/ Vợ ngược con xuôi túi hết tiền/ Chồng gục cả lòng trên giấy mực/ Đen ngòm mặt đất tối như đêm”. 

Trong bài Say ca viết tặng hai người bạn thân thiết Thâm Tâm và Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân cũng không giấu được niềm thảng thốt: “Tối om kìa vận chúng mình/ Trai lành bỏ cỗi, gái trinh bỏ già/ Mật người nào khác gan ta/ Tưới bao nước mắt mới ra nụ cười”.

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân có “cái thú của người đi đổi gió” khi đọc ở Trần Huyền Trân “những vần thơ hiền lành và ít nói yêu đương”. Tháng 11-1941, thì nói vậy, cũng không sai. Tuy nhiên, khoảng hai năm 1942-1943, Trần Huyền Trân viết khá nhiều thơ tình, và nhiều câu còn run rẩy độc giả sang thế kỷ sau. 

Ngoài bài thơ Tương tư được nhắc đến ở Thi nhân Việt Nam mang nhiều tâm sự: “Phải đây mùa nhớ thương nhau/ Chim ngoài ngọn gió hoa đầu cành mưa/ Biết yêu thì khổ có thừa/ Hình dung một thoáng tương tư chín chiều/ Xa nhau gió ít lạnh nhiều/ Lửa khuya tàn chậm, mưa chiều đổ nhanh”, thì chỉ với một mối tình vô vọng đã đủ để Trần Huyền Trân viết hai bài thơ Mười nămTrưa ấy qua rồi rất ấn tượng. Dùng hai thể thơ khác nhau, nhưng sự lỡ làng vướng mắc mỗi câu đều trực tiếp khẳng định một Trần Huyền Trân đa cảm và hào hoa. 

Hình bóng người con gái không trọn ước thề hiện diện trong Trưa ấy qua rồi bịn rịn: “Bây giờ năm tháng vô duyên quá/ Em đã theo chồng bến cát xa/ Đò đã sang sông chèo lái mới/ Sao còn khua sóng mãi thơ ta” tiếp tục phảng phất trong Mười năm nhung nhớ: “Tương phùng là để biệt ly/ Biệt ly là một lòng đi qua lòng/ Giờ thuyền em đã sang sông/ Anh nhìn khói sóng ngỡ trông mây đèo”.

Phẩm chất thi sĩ của Trần Huyền Trân đủ sức rung động người đọc khó tính nhất ở mảng thơ tình, nhưng ông dồn bút lực vào thơ thế sự vì ông khao khát thoát khỏi sự ủ dột những ngày Độc hành ca u uẩn: “Nghêu ngao cho sập bóng ngày/ Khề khà cho ráo hận đầy từng hơi/ Chiều nay nhấc chén lên môi/ Không dưng tưởng nhấp máu người tanh tanh/ Khóc nhau, ném chén tan tành/ Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ...”.

Ý niệm “nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ” trở thành một sứ mệnh thơ của Trần Huyền Trân. Những bài thơ viết trong hai năm 1942-1943 đều tập trung vào khuynh hướng này. 

Dẫu là một lần Xuống đò để tiễn em trai Trần Chi: “Nhà tan nước mất lệ thầm/ Mắt em cúi xuống cho gần lòng anh/ Mẹ nghèo rét miếng rau xanh/ Tiễn con lành rách bao tình thương con/ Thôi em khăn gói nước non/ Sóng dồn đò khuất anh còn ngó mây/ Mênh mông hạt cáy gió bay/ Chia ly vạn ngả thơ này theo em” hoặc một Đêm trừ tịch viết tặng học giả Giản Chi: “Muốn kêu hỡi núi hỡi sông/ Sông ngăn núi chặn cho lòng bơ vơ/ Muốn kêu hỡi những ngày xưa/ Cánh cò bay bổng tự do giữa trời”.

Tinh thần phản kháng trước cảnh nô lệ của Trần Huyền Trân không chỉ thể hiện trong từng bài thơ, mà còn phơi bày ở những dòng… chú thích cho mỗi bài thơ. Ví dụ, khép lại bài thơ Chiều mưa xứ Bắc gửi người xứ Nam giục giã: “Sao chưa chuyển lại trụ đời/ Chuyển trong tăm tối ra ngoài hào quang/ Cho vô duyên đỡ lầm than/ Cho muôn nghĩa lạ kết làm tình thân”, Trần Huyền Trân ghi thêm “Gửi bạn lạc đường dưới gót giày Đai Đông Á”.

Còn khi khép lại bài Chiều loạn hoang mang: “Nghĩa lớn ai mua bán chợ chiều/ Dập vùi hoa lá biết bao nhiêu/ Hãy cùng chiến địa chung trang giấy/ Cất bút cho dòng chữ kiếm reo”, Trần Huyền Trân viết thêm để nhắc nhở chính mình về những phút giây bi đát của đất nước “Những ngày Nhật chiếm đóng, Sài Gòn 1943”.

Tất nhiên, tư tưởng cách mạng của Trần Huyền Trân không chỉ nằm ở những lời than thân trách phận. Trần Huyền Trân kêu gọi hành động cụ thể: Bài thơ Đôi ta viết tặng Nguyễn Ngọc Kha cuối năm 1943 đã chứng tỏ một Trần Huyền Trân thao thức đánh tan áp bức bất công: “Đồng chí ơi/ Máu ta đã nhuộm với đời/ Lá cờ đỏ thắm giữa trời đã bay/ Ta còn, còn thế gian này/ Mất thì mất hết những ngày đau thương!/ Nắm tay nhau bước lên đường”. 

"Rau tần", tập thơ duy nhất của Trần Huyền Trân xuất bản khi ông còn sống.
"Rau tần", tập thơ duy nhất của Trần Huyền Trân xuất bản khi ông còn sống.

Trần Huyền Trân gia nhập Hội văn hóa cứu quốc, và khi tổ chức này phát hành tờ Tiên Phong số đầu tiên vào năm 1944 thì ông có bài thơ Chân trời đã rạng sục sôi: “Hốt nhiên những tiếng bất bình/ Thét lên trong đám lao sinh trễ tràng/ Bao nhiêu sắc mặt bủng vàng/ Còn bao nhiêu máu rỡ ràng bốc lên/ Máu bốc lên! Hỡi anh em!/ Chân trời đã rạng một nền tự do”.

Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Trần Huyền Trân có bài thơ Bố về như một thông báo chính thức về sự dịch chuyển của đất nước và lòng người: “Vút từ quê ra chợ/ Vút từ biển vào non/ Một sớm tung cờ đỏ/ Bố về với súng gươm/ Mừng lau hàng lệ rỏ/ Mắt mẹ tan mù sương”. 

Cảm hứng ấy càng dạt dào hơn khi Trần Huyền Trân viết bài thơ Đi trên đường Hà Nội sau ngày Tuyên ngôn Độc lập 1945 tưng bừng: “Khói lửa bốc hoa tay kẻ sĩ/ Bốn phương về thảo chính khí ca”.

Sau năm 1945, thi sĩ Trần Huyền Trân đã kết hôn với diễn viên Hạc Đính (nổi tiếng với vai Thị Lộ trong vở kịch Lệ Chi Viên và vai Mai trong bộ phim Nửa chừng xuân) và đưa cả vợ con đi theo cách mạng, lập Đoàn kịch Tháng Tám và Đoàn chèo Lạc Việt. 

Ngay khi cuộc kháng chiến 9 năm vừa bùng nổ, Trần Huyền Trân đã có bài thơ Hải Phòng 19-11-1946 dài hơn 100 câu, với giọng điệu mới, khí thế mới: “Lửa nghi ngút từ lòng tham vô độ/ Tay đế quốc chủ băng chủ mỏ/ Đốt qua mờ nòng đại bác liên thanh/ Lửa nghi ngút từ tiệc hoa nhảy múa/ Từ làn môi cặp vú/ Đốt qua lòng mê muội lính viễn chinh… Hải Phòng cuồn cuộn dâng như biển/ Giặc Pháp mang thêm tội giết người/ Hải Phòng cuồn cuộn dâng như biển/ Đứng dậy hôm nay cả lớp người”.

Ngày 22-4-1989, thi sĩ Trần Huyền Trân qua đời ở tuổi 76, sau một giai đoạn trầm luân chịu đựng căn bệnh quái ác. Những bài thơ cuối cùng của Trần Huyền Trân, như Vô tận nguồn hương viết năm 1980, cũng bộc lộ thiết tha một tấm lòng thi sĩ với núi sông bờ cõi Việt Nam: “Hàng nghìn năm vua chúa/ Hàng trăm năm thực dân/ Những hồn thơ còn đó/ Còn lồng lộng như gương… Cho xanh gốc tự do/ Cho xanh trời độc lập/ Cho bông hoa nhỏ nhất/ Cũng thơm suốt đời hoa”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?