Tiếng Việt và những "cắc cớ" của sự trong sáng

Tiếng nói/ ngôn ngữ của mỗi quốc gia dân tộc, bất kể quốc gia dân tộc nào, đều là một thứ tài sản vô giá, trước hết, với chính quốc gia dân tộc ấy. Nó là căn cước văn hóa của dân tộc. Mất căn cước văn hóa, dân tộc không là gì, không còn gì cả.

Chẳng thế mà trước đây ngót một thế kỷ, ông chủ bút Nam Phong tạp chí, nhân một dịp diễn thuyết về thi hào Nguyễn Du và danh tác “Truyện Kiều”, đã khẳng định: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Và về sau này, với tình yêu tiếng Việt vô hạn, thi sĩ Lưu Quang Vũ đã viết những câu thơ dào dạt đắm đuối: “Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ/ Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay/ Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay/ Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt/ Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết/ Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi/ Như vị muối chung lòng biển mặn/ Như dòng sông thương mến chảy muôn đời…” (Tiếng Việt). Vậy nên, ở bình diện lý trí, việc giữ gìn tiếng nói/ ngôn ngữ dân tộc mặc nhiên đã trở nên một yêu cầu mang tính bắt buộc và thường trực.

Tiếng Việt và những

Có những tranh luận khác nhau quanh việc dịch các tác phẩm của Dostoievsky sang tiếng Việt. 

Nhưng trong bối cảnh xã hội nước ta hiện nay, khi trình độ dân trí rõ ràng đã được nâng lên rất nhiều so với trước, và sự hội nhập với thế giới đang diễn ra hằng ngày, lại nảy sinh một câu hỏi: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt như thế nào?

Câu hỏi không hề là ngẫu nhiên, chỉ cần chúng ta nhìn thực tế đời sống của văn học dịch thời gian gần đây sẽ thấy: Cụm từ “sự trong sáng của tiếng Việt” luôn được dẫn ra như một chuẩn mực để định giá chất lượng bản dịch tiếng Việt của những tác phẩm văn học nước ngoài. Hơn thế, như một lời răn đe trước những bản dịch bị coi là luộm thuộm, lủng củng, xa lạ, tối nghĩa về hành ngôn tiếng Việt.

Quả đúng là đã có không ít bản dịch như vậy, và không gì khác hơn, chúng là sản phẩm tồi của những người dịch kém. Nhưng ngược lại, oái oăm thay, cũng có nhiều trường hợp bị kết án oan, và ở những trường hợp ấy, cụm từ “sự trong sáng của tiếng Việt” nhiều khi chỉ đơn giản là một thứ vũ khí sẵn có, được người ta sử dụng cũng chính bởi sự sẵn có ấy, như một quán tính.

Bản dịch tiểu thuyết “Lolita” của Dương Tường là một ví dụ. Khỏi phải nói, dịch “Lolita”, nghĩa là dịch giả chấp nhận đối mặt với thách thức cực lớn. Bởi nhà văn Mỹ gốc Nga Vladimir Nabokov vốn khét tiếng thế giới như một phù thủy về ngôn ngữ. Tiểu thuyết “Lolita” của ông trùng điệp những ẩn dụ, những trò chơi ngôn từ, những cấu trúc câu, những liên văn bản và xuyên văn bản bất tận, cực kỳ… quái đản! Tóm lại, theo nghĩa nào đó, “Lolita” là một mê cung ngôn ngữ mà người viết bày ra với mục đích, không gì khác, để tạo sự mờ đục làm rối trí người đọc. (Thứ văn chương làm rối trí người đọc cũng cần thiết, ít nhất, ở mức ngang bằng với thứ văn chương khiến người đọc được thư giãn). Trước một tác phẩm như vậy – một tác phẩm đã được chúng khẩu đồng từ xếp vào hàng kinh điển của tiểu thuyết hiện đại – mà dịch ra tiếng Việt sao cho đơn giản, dễ hiểu, “trong sáng”, thì cũng chính là cách xuyên tạc tác giả hiệu quả nhất.

Một dịch giả lão thực như Dương Tường không chọn cách này. Ông trung thành với phong cách ngôn ngữ của Nabokov. Dịch “Lolita”, đến chỗ nào văn bản trở nên đa nghĩa hoặc quá tối nghĩa với người đọc, Dương Tường dùng chú thích. (Có tất thảy gần năm trăm chú thích trong bản dịch “Lolita”, một sự nỗ lực và thận trọng hiếm thấy trong hoạt động dịch văn học ở ta hiện nay – không nên quên rằng trong bản dịch “Lolita” tiếng Pháp của Eric Kahane, bản dịch được chính Nabokov đánh giá rất cao, thậm chí còn chẳng có lấy một chú thích nào! Và do vậy, câu văn dịch “trên dòng kẻ có những dấu chấm” cùng lắm chỉ là một lỗi bất cẩn nho nhỏ của Dương Tường, không đáng để thiên hạ xô vào đay đi nghiến lại nhiều như thể trời sắp sập tới nơi).

Nhưng những người đọc thụ động thì không đủ hứng thú và lòng kiên nhẫn để đi theo một trò chơi ngôn ngữ quá rắc rối. Họ khó chịu, và đó là dịp quá tốt để cụm từ “sự trong sáng của tiếng Việt”, luôn sẵn đấy, lại được dẫn ra như một lời răn đe.

Ví dụ này gợi nhớ đến cố dịch giả Cao Xuân Hạo. Sinh thời, ông Cao Xuân Hạo từng phàn nàn về chuyện có tác phẩm nào đó của F. M. Dostoievsky (xin miễn cho người viết việc phải nêu tên) được dịch ra tiếng Việt bằng một văn phong hết sức “trong sáng”, mềm mại, uyển chuyển, dễ đọc, và đọc rất “dễ chịu”. Trong khi trong nguyên tác tiếng Nga thì đó là một cách hành văn với tiết tấu giật cục, gấp gáp, tác giả cố ý sử dụng kiểu ngôn từ tạo cảm giác u ám, nặng nề đến tức thở, nhiều chỗ lại là sự thống ngự của những lớp ngôn từ thô tục.

Tác phẩm gốc như thế và tác phẩm dịch như thế, thì chẳng sai, dịch đích thị là diệt, và cái quan niệm cứng nhắc về “sự trong sáng của tiếng Việt” chính là thứ vũ khí quá tốt để tiêu diệt phong cách của thiên tài văn học Nga. (Dịch giả Cao Xuân Hạo, vốn dĩ là người rất dị ứng với hệ tiêu chí “Tín, Đạt, Nhã” do dịch giả Trung Quốc Nghiêm Phục đưa ra, từng kêu lên đầy bực tức, rằng nếu như ở tác phẩm gốc, tác giả cố tình viết một cách thô tục, mà người ta lại cứ chăm chăm phải dịch ra tiếng Việt sao cho được Nhã, thì phải dịch cách gì đây để đảm bảo trung thành với nguyên tác?).

Tiếng Việt và những

 Sự trong sáng của tiếng Việt qua các thời kỳ cũng có những biên độ khác nhau? Ảnh: L.G

Từ hai ví dụ trên, ít nhất, có thể rút ra một điều: Nên có quan niệm và ứng xử cởi mở hơn trước yêu cầu “phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Ngôn ngữ không phải là một hệ thống nhất thành bất biến. Nó như một sinh thể, thường xuyên vận động, thêm vào và mất đi, liên tục được làm mới.

Mà một trong những con đường làm mới ngôn ngữ hiệu quả nhất, chính là việc dịch văn học. Lịch sử văn học dịch Việt Nam ngay từ đầu thế kỷ XX đã cho thấy: Thông qua sự tiếp xúc và chuyển hóa những tác phẩm văn học thuộc các ngôn ngữ khác, tiếng Việt đã hấp thụ vào mình nhiều lớp ngôn từ mới, nhiều cấu trúc câu văn mới, nhiều mô hình tư duy ngôn ngữ mới, và đã trở nên giàu có hơn từ đó.

Hãy cứ hình dung: Nếu trước năm 1945 mà không có những bản dịch các tiểu thuyết chương hồi của Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục (“Tam quốc chí diễn nghĩa”, “Đông Chu liệt quốc”), không có những bản dịch “An Na Kha Lệ Ninh” (Anna Karenina) của Vũ Ngọc Phan, “Những kẻ khốn nạn” (Những người khốn khổ) của Nguyễn Văn Vĩnh, và nhiều dịch phẩm văn học khác nữa, tiếng Việt của chúng ta chưa chắc đã đạt tới sự đa dạng và thanh thoát như bây giờ. Bởi vậy, nếu cứ khăng khăng “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” với mặc định rằng đó là một di sản ngôn ngữ đông cứng, thì hậu quả sẽ không chỉ là sự triệt tiêu phẩm tính đặc dị trong phong cách nghệ thuật của các tác giả văn học nước ngoài, mà còn là sự triệt tiêu khả năng phong phú hóa của bản thân tiếng Việt.

Với văn học dịch là thế. Còn với sáng tác văn học trong nước thì sao? Có lẽ chỉ cần nói ngắn gọn: Chúng ta không ủng hộ những sự làm xấu tiếng Việt, nhưng cũng không nên bám chặt vào một sự “trong sáng” mơ hồ nào đó của tiếng Việt để đóng sập cửa trước những nỗ lực cách tân ngôn ngữ văn chương. Xét cho cùng, “sự trong sáng của tiếng Việt” không ngưng đọng vào chỉ duy nhất một hình thái nào đó. Lối viết văn tiếng Việt với dày đặc những câu biền ngữ, đăng đối như trong các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh hay trong “Nho Phong” của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, là biểu hiện của một thứ tiếng Việt “trong sáng”.

Nhưng cũng “trong sáng” không kém là câu văn tiếng Việt của chính Nhất Linh ở giai đoạn sau, trong các tiểu thuyết như “Đoạn tuyệt”, “Đôi bạn”, “Bướm trắng”… cho dù câu văn tiếng Việt ở đây đã rất khác với ở “Nho Phong”. Hoặc giả, nếu cứ thuận theo ý kiến (không hề sai) của đa số độc giả, rằng các truyện ngắn và tùy bút của Thạch Lam là một mẫu mực về “sự trong sáng của tiếng Việt”, thì cũng không vì thế mà bảo những câu văn tiếng Việt của Nguyễn Tuân – ngôn ngữ được đẽo gọt rất cầu kỳ, sử dụng những kết hợp từ đầy bất thường và bất ngờ, những cú pháp bị vặn xoắn theo kiểu… chẳng giống ai – là không “trong sáng”. Nó là thứ tiếng Việt “trong sáng” theo cách khác. Tóm lại, nói khác đi, ở đây chúng ta buộc phải có một cái nhìn dân chủ hóa trước cụm từ “sự trong sáng của tiếng Việt”. Nó không giống như chân lý tối thượng của Chúa Trời, đơn nghĩa. Nó là một tập hợp của những chân lý tương đối, luôn mở ra, mời gọi sự sáng tạo của tất cả.

Không nên quên rằng trong lĩnh vực đặc thù như văn chương, ngôn ngữ đã không còn là ngôn ngữ tiêu dùng nữa, mà là ngôn ngữ của nghệ thuật. Xuất phát từ ngôn ngữ đời sống, nhưng nó đã được mã hóa. Và do vậy, nó mang đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của người sử dụng, không loại trừ cả sự đánh đố, khiêu khích, gây hấn bằng ngôn ngữ. Vấn đề còn lại là thái độ của người tiếp nhận. Nếu ta cứ đòi hỏi ngôn ngữ văn chương phải hiền lành, đơn nghĩa, dễ hiểu, “trong sáng” theo cách của ngôn ngữ tiêu dùng, thì tốt nhất là chẳng cần có văn chương làm gì.

Không nên quên rằng lời kêu gọi “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” được nói ra trong bối cảnh một nước Việt Nam với trình độ dân trí nhìn chung rất thấp, tỷ lệ người mới thoát nạn mù chữ cao ngang với tỷ lệ người còn mù chữ. Để tuyên truyền, để vận động đối tượng này một cách hiệu quả nhất, không gì khác, cần phải sử dụng một thứ ngôn ngữ dễ hiểu nhất có thể. 

Nhưng không nên quên rằng bối cảnh xã hội Việt Nam hiện tại đã rất khác. Tốt nghiệp đại học đã trở thành chuyện “thường ngày ở huyện”. Và không nên quên rằng tiếng Việt là một sinh ngữ. Nó tồn tại. Và liên tục vận động

Hoài Nam

Các tin khác

Nước Mỹ 25 năm sau ngày 11/9/2001

Nước Mỹ 25 năm sau ngày 11/9/2001

Một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ buổi sáng kinh hoàng 11/9/2001, loạt hồ sơ vừa được giải mật cho thấy những cảnh báo về Osama bin Laden và al-Qaeda đã xuất hiện từ nhiều năm trước vụ tấn công, đồng thời hé lộ những hệ lụy về sức khỏe mà người dân New York và lực lượng cứu nạn phải đối mặt trong nhiều năm về sau.

Syria - ngọn lửa đang bùng lên từ khoảng trống

Syria - ngọn lửa đang bùng lên từ khoảng trống

Ngày 18/8, Đặc phái viên Mỹ về Syria kiêm nhiệm Đại sứ Mỹ tại Thổ Nhĩ Kỳ Tom Barrack cảnh báo: Một sự cố quân sự ngoài ý muốn nào đó hoàn toàn có thể nhanh chóng khiến tình hình khu vực vượt khỏi tầm kiểm soát. Gần 2 năm sau ngày cựu Tổng thống Syria Bashar Al Assad rời khỏi Damascus, khoảng trống quyền lực vẫn chưa thể được lấp đầy, trong khi nguy cơ về sự xuất hiện của cuộc chiến mới lại một lần nữa bùng lên.

Châu Âu vẫn đi trên dây trong bài toán di cư

Châu Âu vẫn đi trên dây trong bài toán di cư

Gần một tháng sau làn sóng người di cư ồ ạt tràn từ Morocco vào vùng lãnh thổ hải ngoại Ceuta của Tây Ban Nha, châu Âu vẫn loay hoay với bài toán khó: kiểm soát biên giới mà không vượt qua những giới hạn pháp lý, nhân đạo và chính trị, dù các diễn ngôn từ Brussels có vẻ đã cứng rắn
hơn.

Ceuta, cuộc khủng hoảng biên giới bắt đầu từ smartphone

Ceuta, cuộc khủng hoảng biên giới bắt đầu từ smartphone

Từ một phán quyết của tòa án bị bóp méo trên mạng xã hội, những hình ảnh được diễn giải sai lệch và tin đồn lan rộng, hàng chục nghìn người đã đổ về Ceuta trong vài giờ cuối tháng 7, tạo ra một cuộc khủng hoảng tại biên giới Tây Ban Nha - Morocco.

Khi Trung Đông tự vẽ lại bản đồ an ninh

Khi Trung Đông tự vẽ lại bản đồ an ninh

Trong gần nửa thế kỷ, thông qua những thỏa thuận về dầu mỏ, tài chính và hợp tác quân sự, nhiều quốc gia Trung Đông đã dựa vào "chiếc ô an ninh" của Mỹ để tập trung phát triển kinh tế. Nhưng, một thỏa thuận quân sự mới được ký vào những ngày đầu tháng 8 này đang làm thay đổi tất cả, mở ra một giai đoạn mới, khi các quốc gia trong khu vực muốn tự bảo đảm an ninh của chính mình.

Giá trị của độc lập, tự do và những vấn đề đặt ra trong kỷ nguyên mới

Giá trị của độc lập, tự do và những vấn đề đặt ra trong kỷ nguyên mới

Độc lập và tự do là những giá trị có ý nghĩa đặc biệt đối với sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi con người. Không có dân tộc nào có thể phát triển bền vững nếu không có quyền tự quyết đối với vận mệnh của mình; cũng không có xã hội tiến bộ nếu con người không được sống trong môi trường hòa bình, an toàn, có quyền làm chủ và điều kiện phát triển toàn diện. Đối với Việt Nam, độc lập, tự do là những giá trị được hình thành, hun đúc và bảo vệ qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.

Phát huy sức mạnh văn hóa để bảo vệ an ninh Tổ quốc

Phát huy sức mạnh văn hóa để bảo vệ an ninh Tổ quốc

Ngày 5/8/2026, Bộ Công an tổ chức Hội thảo góp ý xây dựng “Đề án Phát triển văn hóa Công an nhân dân trong kỷ nguyên mới”. Đề án là sự cụ thể hóa, triển khai thiết thực việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong lực lượng Công an nhân dân (CAND).

Tăng cường bản lĩnh, nhân văn và đạo đức công vụ của Công an nhân dân trong kỷ nguyên mới

Tăng cường bản lĩnh, nhân văn và đạo đức công vụ của Công an nhân dân trong kỷ nguyên mới

LTS: Trong kỷ nguyên mới, đặc biệt là bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, để bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, lực lượng Công an nhân dân (CAND) đứng trước yêu cầu phải phát triển theo hướng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm chủ khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt mỗi cán bộ, chiến sĩ cần không ngừng nâng cao bản lĩnh, nhân văn và đạo đức công vụ.
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống CAND, Chuyên đề ANTG Cuối tháng trân trọng giới thiệu bài viết của Trung tướng Trần Bá Thiều, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND về vấn đề này.

Dẹp loạn giang hồ trên không gian mạng

Dẹp loạn giang hồ trên không gian mạng

“Giang hồ mạng” không phải là khái niệm pháp lý, mà là cách cộng đồng gọi những cá nhân gây dựng ảnh hưởng trên mạng xã hội bằng hình ảnh đầu gấu đầu mèo, xăm trổ ngang tàng, phát ngôn gây sốc, khoe tiền bạc, các mối quan hệ hoặc công khai chửi bới người khác bằng những lời lẽ rất vô văn hóa... Việc cơ quan điều tra khởi tố, bắt tạm giam một loạt "giang hồ mạng" như: Khánh "Sky", Hồ Văn Khoa, “Vua Quạt” Trần Đình Tiệp, vợ chồng Huấn “Hoa Hồng”, vợ chồng Phú Lê, “Tế điên" Nam Định thời gian gần đây khiến số "giang hồ mạng" khác có vẻ lo ngại sẽ tới lượt mình nên đã tìm cách thay đổi nội dung. Mạng xã hội vì thế cũng đỡ rác hẳn.

Sóng chiến sự đổ về “Cổng nước mắt”

Sóng chiến sự đổ về “Cổng nước mắt”

Giữa lúc dòng chảy thương mại từ Vùng Vịnh qua eo biển Hormuz bị bóp nghẹt bởi xung đột Mỹ-Iran, một huyết mạch hàng hải khác của thế giới đang đứng trước nguy cơ bị cuốn vào vòng xoáy chiến sự. Căng thẳng Houthi - Arab Saudi tái bùng phát, cùng những cảnh báo cứng rắn từ Tehran, đang đặt eo biển Bab el-Mandeb trước nguy cơ trở thành điểm nghẽn tiếp theo, có thể đẩy cú sốc năng lượng vượt khỏi Trung Đông, lan rộng ra nền kinh tế toàn cầu.

Điều đọng lại ở Ankara không chỉ là NATO 3.0

Điều đọng lại ở Ankara không chỉ là NATO 3.0

Trong nhiều năm sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, câu hỏi thường trực đối với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) có lẽ vẫn luôn là: Liên minh này có còn lý do để tồn tại? Thực tế thách thức lớn nhất hiện nay với một tổ chức an ninh phòng thủ 77 tuổi đời là có thể thích nghi với một thế giới nơi cạnh tranh giữa các cường quốc trở thành trạng thái thường trực, hàng loạt cuộc khủng hoảng phủ bóng không gian an ninh châu Âu - Đại Tây Dương, và thậm chí là cả sức ép từ những tranh luận về chia sẻ gánh nặng quốc phòng hay các phát biểu gây tranh cãi của Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Andy Burnham và một định hình mới cho nước Anh?

Andy Burnham và một định hình mới cho nước Anh?

Nghị sĩ Andy Burnham chính thức được xác nhận là lãnh đạo Công đảng và trở thành Thủ tướng thứ 7 của Vương quốc Anh chỉ trong một thập niên. Với những cải cách đầy tham vọng, liệu người đàn ông đến từ Manchester này có thể tái định hình nền chính trị Anh sau một chuỗi khủng hoảng kéo dài hay không?

Vùng Vịnh lại nằm trong tầm lửa

Vùng Vịnh lại nằm trong tầm lửa

Cuộc đối đầu quân sự giữa Mỹ và Iran một lần nữa đẩy khu vực Vùng Vịnh vào trạng thái bất ổn kéo dài. Dù không phải là các bên trực tiếp khởi phát xung đột, nhiều quốc gia Arab lại đang hứng chịu những tổn thất về an ninh, kinh tế và chiến lược.

Di sản nặng nề của cuộc chiến Mỹ - Iran

Di sản nặng nề của cuộc chiến Mỹ - Iran

Bản ghi nhớ Islamabad giữa Mỹ và Iran đã khép lại 110 ngày xung đột khốc liệt. Tuy nhiên, ngừng bắn không đồng nghĩa với việc những hệ lụy của cuộc chiến kết thúc. Đằng sau tiếng súng là những thành phố tan hoang, hàng nghìn thương vong và những dư chấn kinh tế đang lan rộng vượt xa khu vực Trung Đông.

Những nút thắt phía sau Bản ghi nhớ Islamabad

Những nút thắt phía sau Bản ghi nhớ Islamabad

Tiếng súng đã lắng xuống, những siêu tàu chở dầu đầu tiên đã quay trở lại eo biển Hormuz và Trung Đông đang bước vào giai đoạn hậu chiến. Tuy nhiên, chương trình hạt nhân Iran, tình hình Lebanon và tương lai của eo biển Hormuz vẫn là những bài toán chưa tìm được lời giải cuối cùng, có thể quyết định thành bại của Bản ghi nhớ Islamabad trong thời gian tới.

Để không ai bị bỏ lại trong hành trình chuyển đổi xanh

Để không ai bị bỏ lại trong hành trình chuyển đổi xanh

Hội đồng nhân dân TP Hà Nội đã thông qua nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương tiện giao thông đường bộ từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng năng lượng sạch và khuyến khích sử dụng giao thông công cộng trên địa bàn thành phố. Theo đó, thành phố hỗ trợ trực tiếp bằng tiền đối với cá nhân thuộc hộ nghèo có đăng ký “nơi cư trú” hoặc “nơi ở hiện tại” trên phần mềm quản lý VNeID thuộc địa bàn TP Hà Nội do UBND cấp xã xác nhận và chịu trách nhiệm.

Vai trò Pakistan trong việc giải quyết xung đột Iran

Vai trò Pakistan trong việc giải quyết xung đột Iran

Cuộc chiến kéo dài 3 tháng đầu năm 2026 giữa một bên là liên minh Mỹ - Israel và một bên là Cộng hòa Hồi giáo Iran đã đẩy thế giới tới bờ vực cuộc khủng hoảng năng lượng toàn diện và nguy cơ bùng nổ chiến tranh tổng lực tại Trung Đông. Giữa cơn bão lửa, sự xuất hiện của Pakistan trong vai trò kiến trúc sư trưởng cho thỏa thuận hòa bình đã đem đến cho chúng ta góc nhìn mới đầy thú vị về cách mà một quốc gia có thể góp phần xoay chuyển cục diện địa chính trị quốc tế.

Sân khấu chính trị và thể thao

Sân khấu chính trị và thể thao

Ngày hội bóng đá lớn nhất thế giới World Cup 2026 đang diễn sôi động, thu hút sự quan tâm của người hâm mộ khắp thế giới. Nhưng, không chỉ là một sự kiện thể thao, giải đấu này còn trở thành sân khấu lớn mà ở đó giới thể thao và chính trị đã bắt tay giữa những mâu thuẫn và lợi ích.

Tô đậm một vị thế mới

Tô đậm một vị thế mới

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam vừa kết thúc tốt đẹp chuyến công tác tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga và có các hoạt động song phương tại thành phố Kazan, Cộng hòa Tatarstan, Liên bang Nga từ ngày 16 đến 18/6/2026 theo lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin. Đây là chuyến thăm có ý nghĩa đặc biệt, đồng thời cũng đã đạt được những kết quả tích cực, khẳng định hình ảnh Việt Nam là cầu nối tin cậy trong ASEAN, là bạn bè thủy chung, chân thành của Nga.