Thương như giữa đất và người

Nghĩ rằng, mối quan hệ giữa người và đất không bao giờ tách rời. Đất tạo nên cá tính, tính cách cho người, vì lẽ đó, khi người đặt tên cho đất bao giờ cũng phản ánh tâm tư, tình cảm, suy nghĩ sâu xa của chính họ khi quan sát, ghi nhận, cảm nhận những gì từ đất.

Các địa danh ra đời, tự nó đã là một giá trị, có liên quan đến sự kiện về văn hóa, lịch sử, kinh tế, con người… tại vùng đất đó.

Có thể nói, địa danh không đơn thuần là tên gọi, vì nó không chỉ thuộc về tâm thức, ký ức không thể xóa nhòa mà còn là sức mạnh tinh thần từ quá khứ, thôi thúc cư dân đang trên vùng đó hướng về tương lai như thế nào cho phải đạo, ít ra không phụ lòng với tiền nhân. “Đồng thời còn là những chứng tích về ngôn ngữ và có thể cả về văn tự mà các cộng đồng đã đặt, đã dùng và lưu lại trên địa bàn cư trú và phát triển của mình.

Thời gian quần tụ càng lâu dài, trình độ sinh hoạt càng cao, cảnh quan địa lý càng đa dạng, thành phần chủng tộc càng đông đảo… thì địa danh càng dồi dào và phức tạp về số lượng, càng phong phú và sâu sắc về nội dung” (Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX - NXB Khoa học xã hội - 1981 - Dương Thị The - Phạm Thị Thoa, tr.11).

Nghĩ về địa danh

Lý giải về địa danh, thật khó có thể dẫn ra một kết luận cuối cùng. Không dễ dàng. Đôi khi cha mẹ đặt tên cho con theo một tâm tư thầm kín nào đó, thậm chí… ngẫu hứng, nếu không nói ra ắt người con khó có thể hiểu rõ vì nguyên nhân gì, cơn cớ ra làm sao.

Về sau, con cái suy luận là theo suy nghĩ chủ quan của mình, có thể đúng về lý, về ý nghĩa, hợp logic, nhưng chắc gì đã đúng theo ý nguyện, suy nghĩ của cha mẹ?

Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta bỏ cuộc, đành rằng, nếu tiếp tục biết đâu, lại… ngắc ngứ nốt. Cũng chẳng sao, biết đâu đó là một gợi hứng lành mạnh cho những ai muốn trao đổi, tìm hiểu thêm, chỉ vì yêu dấu nơi mình đã sinh ra.

Tài liệu Géographie Physique, Économique et Historique de la Cochinchin (1903) cho biết, Bến Tre có “nhiều “giồng” phủ tre rải rác trong tỉnh”. Đất tạo nên tính cách con người của cư dân nơi đó. Giồng có đóng vai trò gì ở Bến Tre? Một câu hỏi không kém phần thú vị đấy chứ?

Ta hãy cà kê dê ngỗng, bàn phiếm đôi chút với từ “giồng”, vì người vùng miền khác đến đây nếu không thấu hiểu e cũng khó thấy sức hấp dẫn của một vùng đất. Nhà giáo, nhà nghiên cứu Bùi Thanh Kiên giải thích, đó là “Dải đất cao chạy dài song song với đám ruộng thấp. Nơi đây người ta cất nhà cửa, trồng cây ăn trái và trồng hoa màu phụ. Đất giồng cao ráo, ít nước trong mùa khô, nhưng khi đào giếng thì nước rất ngọt” (2) Phương ngữ Nam bộ - Bùi Thanh Kiên - NXB Hội Nhà văn - 2015, tr.642).

Gật gù thích thú lắm đây, vâng ạ, nhưng nếu được nghe thêm ý kiến khác lại càng hay. Thì đây, học giả Vương Hồng Sển cho biết ở miền Nam đều có giồng: “Và vì mùa hạn luôn luôn thiếu nước cho nên trước cửa nhà đều có một cái lu vàng khè và một cái gáo bằng  nửa miếng sọ dừa tra một cán dài, tha hồ cho khách đến nhà, muốn uống nước giải khát hay rửa cẳng cho mát chơn trước khi bước vô nhà thì cứ tự do thọ gáo vô lu mà múc. Vả chăng ai ai cũng biết nước là vật quý, không nên xa xỉ nhưng phàm lệ khi rửa cẳng dội thêm vài gáo cho thấy được thêm mát mẻ thì cũng không ai nói gì, ấy mới thật là lòng tốt bụng tốt của người miền Nam (Tự vị tiếng Việt miền Nam - NXB Văn hóa-1993, tr. 379).

Nếu có câu ca dao:

Mẹ mong gả thiếp về vườn

Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh

Thì cũng có dị bản, ta chấp nhận như một lẽ tự nhiên:

Mẹ mong gả thiếp về giồng

Ăn bông bí luộc, dưa hồng nấu canh

Cũng như câu dao quen thuộc khác:

Ai về giồng Dứa qua truông

Gió lay bông sậy, bỏ buồn cho em.

Có ý kiến cho rằng, “giồng” tức một cách phát âm “vồng” hàm nghĩa: “Luống đất đắp thành dẫy dài giữa cao khum lên: Đánh vồng khoai” (Việt Nam tự vị, 1931). Trong khi đó, trong Nam lại dùng “vồng” để chỉ đến vật gì đó: “Rơi xuống rồi lại tưng lên; gồ ghề làm cho xe chạy không êm (Bùi Thanh Kiên, tr. 1520). Khi về chơi Bến Tre, có lần y được nghe câu hát:

Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng,

Về bưng ăn ốc, về giồng ăn dưa.

Với từ “rẫy”, thú thiệt phân vân quá, sực nhớ câu hát trong nhạc Phan Huỳnh Điểu phổ thơ Ngọc Anh: “Buổi sáng em làm rẫy/ Thấy bóng cây kơ nia”. Muốn có rẫy, có đất trồng tỉa thì người ta phải phát, đốt rừng thường là ở vùng rừng núi, vì thế mới có các từ đất rẫy, phát rẫy, đốt rẫy, làm rẫy… Thế thì, nơi ấy làm gì có còng? Ai cũng thừa biết còng vốn động vật nhỏ, hình dáng như cua thường sống ngoài đồng, ngoài ruộng kia mà? Thiệt vô lý.

Vô lý đùng đùng.

Đã ngắc ngứ chưa?

May quá, lúc đó đang lai rai tại đám giỗ nhà người bạn ở Chợ Lách, bèn hỏi, có người nâng ly rượu Phú Lễ ngửa cổ nốc cạn, cười khà một tiếng mà rằng: “Cha chả bạn mình ơi, rẫy là những ruộng nước mặn và lợ. Còng làm hang trên đất rẫy, có còng lửa, còng gió, muốn bắt người ta chờ nước ròng cho rẫy cạn nước, dễ ợt, lấy mũi chân ấn sâu phần dưới hang, lập tức còng chui lên, nó di chuyển nhanh nhưng lỏng khỏng, vì thế khi các cô cậu học trò viết láu chữ nguệch ngoạc, chữ ngả chữ nghiêng, chữ xiên chữ xẹo, thầy cô chê “chữ viết như còng quều”, khác với ngoài Bắc ngoài Trung gọi “chữ viết như gà bưới”. Lần sau về đây, chơi vào lúc nước ròng, đãi bạn mình một bữa còng ăn kèm muối tiêu chanh, lá quế, lá chùm ruột là hết sẩy con bà Bảy. Hứa nhá?”.

Ừ, thì hứa. Đến một vùng đất hiếu khách, chân tình, ai lại không khoái quay lại lần nữa. Và cứ đôi lần như vậy, có lúc tự hỏi: “Tại Bến Tre có bao nhiêu giồng gắn liền với địa danh?”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Chí Bền đã liệt kê: giồng Tre, giồng Lá, giồng Thơm, giồng Chuối, giồng Giăng, giồng Sao, giồng Củ Chi, giồng Bần, giồng Đủng Đỉnh, giồng Quýt, giồng Sậy, giồng Cà, giồng Keo, giồng Bông, giồng Xoài, giồng Quéo, giồng Trôm, giồng Chanh, giồng Nứa, giồng Ớt, giồng Ổi, giồng Dâu, giồng Duối, giồng Bàng… (Văn hóa Bến Tre - NXB Khoa học Xã hội - 2015, tr.184). Còn có thể bổ sung thêm như giồng Chuối, giồng Chàm, giồng Cây Me, Bồn Bồn… Qua đó, ta có thể biết được thực vật ở Bến Tre đa dạng biết chừng nào.

Báo Đồng Khởi ngày 9-1-2012, nhà báo Trần Quốc có tường thuật Hội thảo đề tài khoa học “Sự hình thành và phát triển nghề sản xuất cây giống và hoa kiểng Cái Mơn” cho biết một điều thú vị: “Đất Cái Mơn đã có sự hiện diện của 54 loại trái cây, đặc biệt là các loại trái cây đặc sản của các nước Đông Nam Á. Cái Mơn giống như bản đồ trái cây thu nhỏ của các nước Đông Nam Á”. Suy ra các giống cây trồng này, dần dà trở thành địa danh là lẽ tất nhiên, chẳng hạn với “giồng” vừa nêu trên.

Mà với người từ nơi xa, nếu kể đến giồng có gắn địa danh, y tin rằng hầu hết đều nhắc đến Giồng Trôm. Tại sao nó lại nổi tiếng đến thế? Đơn giản chỉ vì đã được xuất hiện trong ca dao, âm điệu du dương dễ nhớ, truyền từ đời này qua đời nọ và lan tỏa ra khỏi phạm vi của một tỉnh, tỷ như:

Bến Tre giàu mía Mỏ Cày

Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn

Bình Đại biển cá, sông tôm

Ba Tri ruộng muối, Giồng Trôm lúa vàng.

Ngoài Giồng Trôm, còn phải kể đến Ba Tri. Có người giải thích Ba Tri là tên gọi của một loại “lụa đen gợn sóng”, vì “ba” là sóng, “tri” là sắc lụa đen. Nghe đâu, bộ Lễ triều Nguyễn gọi lụa này là lụa Ba Tri nhằm phân biệt với lụa Tân Châu, lụa Hà Đông… Cách giải thích này, hợp lý không? Không rõ nhưng rõ ràng lụa Ba Tri khét tiếng đẹp, bền, láng và đã hiên ngang đi vào ca dao huê tình từ bao đời nay:

Ai về xứ lụa Ba Tri,

Ngắm cô thôn nữ đương thì sắc hương.

Ngắm người đẹp, cứ ngắm nhưng vẫn không quên liếc qua sách, nào dám quên. Theo học giả Vương Hồng Sển ngày xưa có câu hát:

Ba Si rồi lại Ba Se

Cầu kê Bưng Bót Cơ Me cổ thời

Và cụ khẳng định, Ba Si, Ba Se là “tên cũ của Ba Tri, cũng gọi Ba Tri cá, vì ở đây xưa có nhiều cá”.

Nghĩ cho cùng, sẽ chẳng bao giờ có thể truy nguyên gốc, tìm hiểu chính xác vì sao có tên gọi ấy. Cứ cảm nhận theo suy nghĩ của riêng mình, cũng chẳng ai bắt bẻ gì. Mà nào đã hết đâu ngay cả tên gọi cũng không dễ dàng hiểu hết, ông Nguyễn Chí Bền cũng đã liệt kê ở Bến Tre có những địa danh bắt đầu từ “cái”: Cầu Cái Gối, Cầu Cái Gà, Cái Súc, Cái Mơn, Cái Quao, Cái Nhum, Cái Cấm, Cái Trầu, Cái Da, Cái Bè Cạn, Cái Bè Sâu, Cái Trăm, Cái Trê, Cái Đôi, Cái Chốt, Cái Nứa, Cái Mít, Cái Tắc, Cái Bông, Cái Chắc, Cái Bần, Cái Nứt, Cái Sơn, Cái Cá, Cái Trăng, Cái Cau, Cái Cấm, Cái Váng, Cái Tôm, Cái Cát, Cái Bãi Sâu, Cái Lác, Cái Cai, Cái Dọc, Cái Ngang, Cái Hào, ấp Cái Tắc, Cái Đuối… Tất nhiên không chỉ có thế.

Vậy, “cái” là gì?

Dù không phải nhà ngôn ngữ học, nhưng do có nhiều sách, chịu khó tra cứu nên về địa danh ở miền Nam, học giả Vương Hồng Sển đã đưa ra nhiều thông tin mới mẻ. Với từ “cái” liên quan đến Cái Răng, cụ tâm tình: “Một địa danh duy nhứt bắt đầu bằng chữ “cái” mà tôi chắc chắn biết điển tích”: “Truy nguyên ra, trong sách Pháp le Cisbassa chẳng hạn và nhiều sách khác đã có từ lâu vẫn ghi: “Krêk Karan: Rạch Cái Răng”, nay cứ lấy điển này làm chắc, một dạng khác hỏi thăm người cố cựu bản xứ thuật rằng ngày xưa không biết từ đời nào nguyên người Thổ (Cơ Me) ở Xã Tón (Tri Tôn) chuyên làm nồi đất và karan chất đầy mui theo Sông Cái đến đậu ghe nơi chỗ này để bán, năm này qua năm nọ, chày ngay người mình phát âm karan biến ra Cái Răng rồi trở nên địa danh thiệt thọ của chỗ này luôn” (Sđd, tr.98).

Đọc kỹ lại đoạn này lần nữa, ta thấy sở dĩ gọi karan (nồi nắn bằng đất của người Cơ Me) do bán trên Sông Cái nên karan mới kết hợp với Cái (trong Sông Cái) để thành Cái Răng. Thế thì xin hỏi, tại sao ở Bến Tre, Cái lại gắn với cây như Mít/ Cái Mít, Trầu/ Cái Trầu; gắn với tên con vật như Đuối/ Cái Đuối… Vậy, “cái” có phải là “cái” đa nghĩa, nhiều nghĩa trong tiếng Việt đã có từ hàng ngàn năm; hay “cái” ở đây là từ vây mượn từ tiếng Khmer? Gợi ý này, biết đâu sau này sẽ có người vì quá yêu quê mình mà sẽ nhọc công “giải mã” chăng?

Mà này, đã hỏi thì hỏi luôn thể. Hiểu ra làm sao với những định danh như hóc, hói, kênh, rạch, xẻo, bàu, vàm, cồn, gò, bến, cù lao… Đâu là từ vây mượn, vây mượn từ đâu? Chẳng hạn, ở Bến Tre có vàm Lách, vàm Mơn, vàm Ba Vông…; cứ cho “vàm” vây mượn từ tiếng Khmer nhưng nơi này ghi pênam, nơi kia ghi pinam? Đâu đúng đâu sai?

Nghe hỏi, chắc ai đó nghe xong cũng thấy ngắc ngứ chứ gì?

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?