Thời đại nào, sân khấu ấy

Tất cả mọi thể loại sân khấu dân tộc đã từng phát triển mạnh mẽ, từng tạo ra những "căn cứ địa" vững chắc trong lòng dân ở các khu vực phù hợp. Vậy mà giờ đây, tuy chưa hẳn đã mai một nhưng đã hiển hiện ra sự suy giảm trầm trọng người xem, người thưởng thức…

Tất cả mọi thể loại sân khấu dân tộc đã từng phát triển mạnh mẽ, từng tạo ra những "căn cứ địa" vững chắc trong lòng dân ở các khu vực phù hợp. Như chèo ở vùng đồng bằng Bắc bộ với các tỉnh lúa trung tâm của châu thổ sông Hồng là Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Giang… Tuồng tung hoành ở miền Trung với Bình Định, Phú Yên. Còn cải lương là món ăn không thể thiếu của người dân Nam Bộ - miền Tây đồng bằng sông Cửu Long, trước sau 1954 còn lan tỏa ra Hà Nội và một vài thành phố khác. Vậy mà giờ đây, tuy chưa hẳn đã mai một nhưng đã hiển hiện ra sự suy giảm trầm trọng người xem, người thưởng thức…

Chính những người làm nghệ thuật truyền thống, dù đam mê, có ý thức nuôi dưỡng giữ gìn bao nhiêu cũng ngày càng tỏ ra bi quan và cảm thấy bất lực trong sự duy trì chứ chưa nói có định hướng phát triển. Vì sao vậy?

Cắt nghĩa điều này có thể dẫn lại một định ngữ gần như được coi là quy luật "thời đại nào có sân khấu ấy".

Do hình thành và phát triển trên nền tảng nền kinh tế và xã hội lấy nông nghiệp làm chủ đạo nên chèo, tuồng, cải lương… nhìn chung có tốc độ nghệ thuật chậm. Tiết điệu, nhịp độ từ diễn biến chuyện đến làn điệu, động tác, cách biểu diễn khoan thai, nhịp nhàng, từ tốn, chậm rãi. Người thưởng thức và người biểu diễn đều hòa đồng trong mối tương quan của nhịp điệu thong thả đó.

Đến nay, bước sang thế kỉ 21, tốc độ cuộc sống trong thời đại công nghiệp, kĩ thuật đã nhanh dần và tăng vọt so với mấy chục năm trước đây. Suy nghĩ và lối sống cũng từ đó mà biến chuyển theo hoàn cảnh, môi trường kinh tế, tâm sinh lý con người. Vì thế, nghệ thuật truyền thống càng ngày càng trở nên lạc lõng trong xu thế thẩm mỹ nghệ thuật.

Một cảnh trong vở “Chu Văn An - người thầy của muôn đời” do Nhà hát chèo quân đội dàn dựng.
Một cảnh trong vở “Chu Văn An - người thầy của muôn đời” do Nhà hát chèo quân đội dàn dựng.

Sự kể, sự diễn chậm rãi, ê a trong các làn điệu của nghệ thuật truyền thống không còn phù hợp với khán giả, nhất là khán giả trẻ. Sự quan tâm của người xem trước đây khoanh vùng làng xã với đồng ruộng và thôn quê gần như bất biến với mối quan tâm duy nhất là kết quả của lúa và cây trồng nông nghiệp. Thì giờ đây với sự phát triển của kĩ thuật thông tin khiến môi trường sống thay đổi đến chóng mặt, mỗi cá nhân trở thành một thành viên hòa đồng trong một thế giới phẳng.

Tầm nhìn đã vươn rộng và mối quan tâm cũng vươn ra khỏi làng quê để đến những lĩnh vực khác của nhân loại. Chính tốc độ cuộc sống đã tạo ra yêu cầu đòi hỏi nghệ thuật sân khấu phải đáp ứng được tốc độ này.

Trong một lần nói chuyện với NSND Quốc Trượng - một trong những diễn viên gạo cội của nghệ thuật chèo, ông cho biết: "Chèo muốn thu hút khán giả phải thay đổi tốc độ, diễn biến của câu chuyện, của cách diễn. Ví dụ tình tiết chàng trai ngồi trên xe máy đã khởi động mà lại hát mấy trổ xa mạc, đường trường tạm biệt người yêu thì quả là không ổn, nếu không muốn nói là dị thường".

Về nội dung, nếu chèo thường khai thác truyện nôm khuyết danh thuần Việt để làm nên các vở diễn hấp dẫn như "Quan Âm Thị Kính", "Phan Trần", "Súy Vân"… thì tuồng và cải lương một thời chủ yếu là lấy các tích có nguồn gốc Trung Quốc. Trong tiểu thuyết cổ như "Tam Quốc", "Thủy hử", "Phong thần diễn nghĩa", "Thuyết đường", "Tây du kí"… Đến những sách dịch cuối thế kỉ 19 đầu 20 như "Long đồ án", "Phấn trang lâu", "Tống Từ Vân", "Quần anh kiệt", "Tiết San chinh tây"…

Trong các chuyện dân gian, các điển cố như "Thanh xà Bạch xà", "Chiêu Quân", "Tây Thi"… để soạn ra kịch bản. Chính vì thế, giai đoạn này, tác giả kịch bản sân khấu thường được gọi là soạn giả. Số lượng kịch bản từ nguồn Trung Quốc chiếm tới 80% kịch bản được dàn dựng trên sân khấu cải lương và ít nhiều của tuồng. Vì thế nên hàng loạt các tích Trung Quốc đã được khán giả Việt Nam am tường thông qua các kịch bản nổi tiếng như "Bao công xử án Quách Hòe", "Lã Bố hí Điêu Thuyền", "Bạch xà Nương", "Tần Hương Liên", "Chiêu Quân cống Hồ", "Tây Thi Phạm Lãi"…

Các cặp đối giữa chính và tà của Trung Quốc như "Nhạc Phi - Tần Cối", "Bàng Quyên - Tôn Tẫn"… đã từng là niềm say mê của bao thế hệ khán giả Việt Nam… thì hiện nay, với không khí của xã hội đương đại, các "tích kiểu này để dịch nên trò" đã mất đi tính hấp dẫn đối với khán giả.

Nguyên nhân nữa cũng cần phải nói thuộc về sân khấu hiện nay quá thiếu vắng các tác giả chuyên nghiệp, biết sử dụng thành thạo các làn điệu chèo, cải lương , tuồng nên vài ba thập niên này số lượng tác giả viết kịch bản dành cho các loại hình sân khấu truyền thống chỉ đếm trên đầu ngón tay và dần dần mai một. Tình trạng kịch bản kịch nói được chuyển thể rồi "cắm các làn điệu cho chèo, cải lương" đã trở thành phổ biến.

Đứng về mặt chuyên môn nghệ thuật thì kết cấu kịch bản chèo lấy phong cách tự sự, gián cách thuần Việt làm chủ đạo khác hẳn kết cấu mâu thuẫn, xung đột theo kịch phương Tây trong kịch nói. Chính sự khập khiễng, ép duyên này thêm một lần tạo ra những vở diễn "ngô không ra ngô, khoai không ra khoai" làm suy giảm rất nhiều tính hấp dẫn đối với người xem.

Tôi theo dõi khán giả nhiều lứa tuổi, kể cả khán giả trẻ thì thấy một hiện tượng đáng để các nhà chuyên môn lưu ý. Đó là sự hấp dẫn thực sự của các vở chèo kinh điển như "Thị Kính", "Súy Vân"… đối với khán giả. Họ hầu như bị mê hoặc cuốn hút vì tính hài, tính tự sự và phương pháp biểu hiện gián cách của nghệ thuật chèo mà không mặn mà gì với những kịch bản kịch nói cắm làn điệu chèo. Sự mai một dần các tác giả chuyên của các loại hình sân khấu truyền thống cần nhấn mạnh một lần nữa cũng là nguyên nhân quan trọng làm mất khách ở các thể loại này. Vì nếu không có tác giả chèo thực thụ am hiểu và sử dụng thành thục làn điệu chèo phù hợp cho nhân vật, cho tình huống kịch thì khó có một kịch bản chèo hay, hấp dẫn được khán giả.

Cuối năm 2019, Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam (NSSKVN) tổ chức trại viết kịch bản truyền thống thì trong 15 tác giả dự trại, chỉ có hai tác giả chèo đích thực, một tác giả tuồng trẻ từ quê tuồng Quy Nhơn còn lại đều là tác giả kịch nói mang kịch bản kịch nói viết thành thơ đến dự trại. Và tín hiệu đáng mừng là trại sáng tác kịch bản sân khấu đầu tiên của nhiệm kì khóa 9 Hội NSSKVN tổ chức ở Đà Lạt trung tuần tháng 5 này, số tác giả viết kịch truyền thống đã vượt qua con số 6 trong tổng số 20 tác giả, trong đó có bốn tác giả trẻ, có tác giả viết cải lương ở Bến Tre mới 25 tuổi.

Sơ bộ chỉ ra một số nguyên nhân làm cho các loại hình sân khấu truyền thống đang mất dần khán giả để thấy, về chuyên môn thì biện pháp bức thiết nhất theo tôi là đào tạo các tác giả chuyên cho sân khấu truyền thống. Việc này không chỉ dừng ở các khoa dạy sáng tác mà ngay Hội NSSKVN cũng nên có những lớp bồi dưỡng cho những tác giả nào muốn làm chủ phương pháp viết kịch bản chèo, cải lương, tuồng.

Điều thứ hai: Các loại hình sân khấu truyền thống dù ở góc độ nào cũng là di sản quý báu của cha, ông để lại… Nên chăng Bộ Văn hóa, nhà nước cần có những trung tâm bảo tồn, giữ gìn các thể loại này bằng nhiều hình thức sinh động như đưa vào các trung tâm nghiên cứu, bảo vệ các hình thức mẫu mực của các thể loại sân khấu này, quảng bá rộng rãi hình thức sân khấu đến người xem, kể cả đưa vào dạy trong nhà trường phổ thông kiến thức các loại hình này. Song trước hết tôi vẫn lưu ý việc đào tạo ra lực lượng sáng tác kịch bản cho các thể loại này cần được coi trọng và xem như một trong những biện pháp hữu hiệu để duy trì, phát triển các loại hình sân khấu truyền thống .

Đà Lạt, 15/5/2020

Nguyễn Hiếu

Các tin khác

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.