Thơ Nguyễn Đức Hạnh - Ngọn lửa trữ tình không an yên

Nếu coi tên tập thơ là linh hồn thứ hai của tác phẩm thì hình ảnh người nghệ sĩ cháy hết mình trong thơ Nguyễn Đức Hạnh, phải chăng là một tác nhân khiến anh đặt tên cho tập thơ mới nhất của mình in tại NXB Văn học là "Khát cháy".

Cái tựa đề nghe khá dữ dội, từ khát đã mãnh liệt, lại ghép thêm từ cháy khiến cảm giác như bùng nổ ngay tức thì. Nó mang sắc thái Căng - gắt - không an yên, giống như một nỗi khát đến độ đốt rát ruột gan. Với người yêu thơ dịu dàng, tên này có thể bị xem là quá kịch tính, và hơi "bốc hỏa". Nhưng đây là một tựa đề vừa gợi cảm, vừa đầy năng lượng, và hay ở chỗ: bạn không cần chọn một nghĩa. Đặt tên như thế - nước đôi, gợi mở - sẽ để người đọc tự cảm, tự đo lường lửa trong tim họ.

Những bài thơ trong tập này của Nguyễn Đức Hạnh đầy giọng điệu từ bùng vỡ đến hoài nghi, từ đắm say tới kiệt cùng trăn trở, và “Khát Cháy” theo tôi là một cái tên khá hợp, chắc chắn không phải là một cái tên nhạt nhòa. Nó có thể không an yên nhưng có lửa và thơ mà thiếu lửa, thì có gì đáng đọc.

%3fnh nhà tho nguy%3fn ð%3fc h%3fnh.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn đức hạnh.

Khi cảm xúc thầm lặng đi qua cơn bão chữ

Nguyễn Đức Hạnh là một trong những gương mặt thơ đương đại được chú ý bởi giọng trữ tình giàu cảm xúc, mê đắm nhưng cũng lắm day dứt. Đọc thơ anh, tôi có cảm giác như vừa đi qua cơn bão chữ với nhiều sung lực mạnh. Thơ anh không đứng yên ở một kiểu mạch cảm xúc đơn thuần mà luôn vận động giữa hiện thực và biểu tượng,giữa dân gian và hiện đại, giữa cá nhân và cộng đồng.

Đọc thơ Nguyễn Đức Hạnh là bước vào một không gian thẩm mỹ riêng biệt, đó là nơi con người đối thoại với thân phận, văn hóa, thời gian, và cả những cơn mộng mị đan cài ám ảnh. Giọng điệu thơ của anh vừa da diết vừa đa tầng vừa dữ dội vừa trầm mặc với những thi điệu khác nhau. Trong thi điệu thơ da diết và u hoài, ta thấy nỗi buồn là dòng chảy xuyên suốt trong thơ của tác giả này, nhưng không phải nỗi buồn sầu não, mà là một nỗi buồn được chiêm nghiệm, được gạn lọc từ cuộc sống.

Trong bài thơ “Tôi là ống cơm lam nướng vụng”, hình ảnh “tôi” là ống cơm lam cháy đen mà vẫn cố “bùi thơm” thể hiện nỗi niềm của những kiếp người lam lũ, cố gắng dâng hiến chút hương vị đời mình trong thinh lặng.

Với thi điệu có xu hướng trầm mặc và triết lý của Nguyễn Đức Hạnh, những câu thơ trong bài “Hiện sinh trong nhạc Trịnh” hay “Những ký tự trên đá cổ Sa Pa” đều mang nặng giọng điệu tự vấn, ngẫm ngợi về sự tồn tại, về bản chất thiện và ác, về tình yêu và sự vô thường. Thơ anh vừa mềm mại lại vừa chấn động, như “gạn đời từ đục thành trong” như một nỗ lực siêu hình từ bóng tối tiến tới ánh sáng. Còn ở thi điệu dữ dội, thô mộc và nghệ sĩ với các bài thơ “Chợ biên ải” hay “Gặp Quang Dũng hát trên sông Mã”, giọng điệu thơ Nguyễn Đức Hạnh trở nên cuồng nhiệt, mạnh mẽ với nhiều hình tượng sống động, thể hiện một sự mãnh liệt của thiên nhiên và con người.

Phong cách thơ của Nguyễn Đức Hạnh là sự giao thoa giữa dân gian với hiện đại cùng các lớp nghĩa hướng về tính triết lý và liên văn bản, trong đó, đề cao dân tộc tính với các hình ảnh dân gian và ẩn dụ văn hóa. Tác giả mượn hình ảnh gần gũi như ống cơm lam, muối ớt, mèn mén, sông Mã, măng rừng, nhà sàn, dân ca Mường - Thái,… để tạo nên một thế giới trữ tình đậm bản sắc dân dã vùng cao. Trong bài “Chợ biên ải”, hình ảnh “gió mẹ”, “gió cha”, “gió con” chính là sự ẩn dụ về nỗi nhớ nguồn cội và dòng chảy văn hóa xuyên thế hệ.

Với cách sử dụng liên văn bản và các biểu tượng văn hóa nghệ thuật, Nguyễn Đức Hạnh không viết tách rời mà luôn đặt mình trong dòng chảy của thi ca Việt. “Gặp Quang Dũng hát trên sông Mã” là bài thơ “hội ngộ thiêng liêng” giữa hai hồn thơ, tạo nên một mê lộ biểu tượng: sông Mã, hoa ban, cá Anh Vũ, độc huyền cầm… tất cả được “liên kết ngầm” với hồn thơ “Tây Tiến”. Trong “Nghĩ về Văn Cao”, anh tạo dựng một bức chân dung đa tầng của thiên tài qua ba nghệ thuật lớn: thơ - nhạc - họa. Tác giả không chỉ tri ân mà còn tiếp tục “kí thác” ngôn từ như cách Văn Cao gửi gắm âm nhạc vào hồn dân tộc.

t%3fp tho 'khát cháy' c%3fa nguy%3fn ð%3fc h%3fnh.jpg -1
Bìa cuốn “Khát cháy” của Nguyễn Đức Hạnh.

Không chỉ thế, khi hướng thơ mình vào chất triết lý - hiện sinh - đa tầng cảm xúc, Nguyễn Đức Hạnh không né tránh những câu hỏi bản thể, những nghịch lý sống còn như trong bài thơ “Hiện sinh trong nhạc Trịnh”: “Người luôn đổi dòng khi chảy về huyệt mộ” khi nói về đời người với cái nhìn chân thực, nhưng đầy thương yêu, bao dung. Câu thơ “Hai con kiến giữa biển Đông” vừa buồn cười vừa xót xa: kiếp người nhỏ bé đến nực cười, nhưng vẫn cần tình yêu để không hóa đá.

Một điểm nhấn quan trọng trong ngôn ngữ thơ của Nguyễn Đức Hạnh là sự phá cấu trúc ngữ pháp với hình tượng mạnh mạnh - sắc - gợi cảm xúc: “Đốt ba đống lửa thơ - nhạc - hoạ”, “chém chữ mất còn”, “cắn bóng thi nhân ngậm ngùi” khi anh hay dùng các động từ dữ dội như “đốt”, “chém”, “cào”, “giật” để kích hoạt tầng cảm xúc mãnh liệt. Ở một số bài thơ, dường như tác giả của tập thơ "Khát cháy" đề cao ngôn ngữ tượng trưng và trừu tượng hóa với nhiều hình ảnh mang tính ý niệm hóa và trừu tượng hóa thành hình thể cụ thể như “Lửa số phận đốt đau không khóc”, “Nỗi buồn tròn, niềm vui méo”, “Mật ngôn của cánh cò”, “Sóng thần tràn qua vũ trụ sạch không”…

Sự choáng ngợp khiến thơ tràn lấp cảm xúc tự nhiên

Thơ Nguyễn Đức Hạnh thường hướng tới các chủ đề trữ tình đặc trưng như nỗi đau dân tộc; tình yêu bất toàn mang tính hiện sinh khi tình yêu cá nhân gắn với cộng đồng để thơ không chỉ là “thơ tình đôi lứa” mà thường là tình yêu mang tính định mệnh, gắn bó với quê hương và dân tộc.

Trong sự giao cảm với quá khứ với hiện tại và các nghệ sĩ tiền bối, tác giả không chỉ viết cho mình mà còn như nối lại mạch cảm xúc của người đi trước, từ Văn Cao, Trịnh Công Sơn tới Quang Dũng, để từ đó mở rộng không gian trữ tình vượt khỏi thời gian cá nhân.

Với tập thơ "Khát cháy", Nguyễn Đức Hạnh là một nhà thơ của chất thơ “chín kỹ”, kết tinh giữa dân gian với hiện đại, với ngôn ngữ giàu biểu tượng. Thơ anh không dễ hiểu ở lớp nghĩa đầu tiên, nhưng khi đào sâu, sẽ thấy đó là một thế giới thơ dày đặc xúc cảm, suy tưởng và tình yêu thương.

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh rất rõ nét, thơ anh cũng bộc lộ một số khiếm khuyết trong cách dựng tứ và dùng chữ. Tổng quan về phong cách trữ tình của anh có thể được nhìn nhận ở cả hai chiều: sức hấp dẫn và sự choáng ngợp đôi khi làm đứt mạch cảm xúc. Ưu điểm là Nguyễn Đức Hạnh có một giọng thơ giàu nội lực, đa tầng và nhiều bản sắc từ tự sự đến hiện sinh. Điểm nổi bật nhất trong thơ anh là giọng điệu thiết tha nhưng không sướt mướt, day dứt nhưng không tuyệt vọng.

Dù viết về tình yêu (Cà phê), thân phận nghệ sĩ (Tự họa), một miền đất (Sông Lam), hay những cuộc độc thoại giữa bóng đêm (Uống với Hoàng Cầm…), thơ anh đều có một tiếng nói trầm lặng, vừa khắc khoải vừa hài hước, vừa tĩnh tại vừa sâu lắng. Thơ anh cũng mang màu sắc triết lý hiện sinh rõ rệt, nơi con người được đặt vào giữa những nghịch lý của đời sống: có - không, sáng - tối, yêu - buông, như trong "Hiện sinh trong nhạc Trịnh" hay "Ga mưa". Cảm giác vô định, trôi dạt, “mất chỗ đứng” nhưng vẫn cố níu giữ điều gì đó mềm mại có tình người.

Hạn chế lớn nhất của Nguyễn Đức Hạnh trong tập "Khát cháy" là không ít khi để thơ tràn lấn cảm xúc tự nhiên. Tác giả dùng liên tưởng khoa trương, đôi lúc quá sức chịu đựng của cấu tứ. Tuy giàu tưởng tượng, nhưng không ít lần Nguyễn Đức Hạnh để cảm hứng trôi quá xa, vượt khỏi giới hạn tự nhiên của hình tượng. Một số bài thơ (như "Cà phê", "Ga mưa", "Tự họa") xuất hiện những câu chữ khoa trương, như cố tình gây ấn tượng: “Hai câu thơ xa tít hai miền/ Lỡ mắc vào nhau thành dây buộc bão” hoặc “Người thành sách quý bị rách mất trang”. Những hình ảnh này tuy sáng tạo nhưng có cảm giác bị gò ép, “phô diễn kỹ thuật” hơn là tuôn chảy cảm xúc, làm mất đi sự chân thành cần có trong một bài thơ trữ tình.

Một số bài của anh có tứ thơ dàn trải, sa vào liệt kê và trưng bày biểu tượng như "Sông Lam" hay "Uống với Hoàng Cầm"… có dấu hiệu dồn quá nhiều chất liệu vào một bài duy nhất, khiến bố cục tản mạn, thiếu điểm nhấn. Hình ảnh đẹp có, biểu tượng lạ có, nhưng thiếu sự cô đọng và tiết chế nên chất thơ bị loãng, mạch cảm xúc khó tập trung. Thơ là nghệ thuật của khoảng lặng, nhưng Nguyễn Đức Hạnh dường như không cho phép bài thơ “thở”, mà liên tục dồn dập hình ảnh, chữ nghĩa, khiến người đọc có lúc mệt mỏi vì bị đẩy vào mê cung ngôn từ không có lối ra.

Một vài hình ảnh trong thơ rơi vào mỹ từ rỗng khi câu chữ của anh đôi lúc quá đẹp nhưng lại thiếu điểm tựa cảm xúc, như: “Thở thật buồn sen bay trắng ngàn mây” với câu thơ như một bức tranh lụa đẹp mà lạnh, nhưng không chạm vào được tâm khảm người đọc. Trên đây, tôi điểm qua một số ưu điểm và nhược điểm trong tập thơ "Khát cháy" của Nguyễn Đức Hạnh. Mong rằng với một nội lực thơ đang tới độ chín kỹ, ta sẽ đợi chờ anh ở các tập thơ tiếp theo.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

Gần đây, nhiều hoạt động lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, di sản mang đậm sắc màu dân tộc như vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đã thu hút sự quan tâm của giới trẻ...

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.