Điện ảnh Việt Nam 2025:

Tăng trưởng nghịch chiều và cơ hội cho nền công nghiệp văn hóa

Năm 2025 của điện ảnh thế giới mở ra với tâm thế bất an. Hollywood, biểu tượng của nền công nghiệp điện ảnh toàn cầu tiếp tục đối mặt chu kỳ suy giảm doanh thu, sự bế tắc của dòng phim trung cấp, chi phí sản xuất leo thang và tình trạng phụ thuộc quá mức vào các thương hiệu cũ. Thị phần phòng vé phim Hollywood đang giảm dần so với 2 thập kỷ trước, nhất là ở các thị trường châu Á, nơi khán giả trẻ chuyển sang nội dung bản địa và dịch vụ trực tuyến.

Hàn Quốc, thị trường từng là hình mẫu phát triển ổn định của khu vực, đang trải qua giai đoạn khó khăn nhất trong hơn 20 năm qua: lượng vé bán ra giảm sâu, dự kiến không vượt nổi mốc 100 triệu lượt, mức thấp nhất kể từ năm 2004 (ngoại trừ giai đoạn đại dịch).

Giữa bối cảnh đó, thương vụ Netflix đạt thỏa thuận mua lại Warner Bros. Discovery trị giá hơn 82 tỷ USD gây “chấn động” toàn ngành. Lần đầu tiên một nền tảng streaming bước lên vị thế sở hữu một trong những studio lâu đời và lớn nhất Hollywood, nắm trong tay HBO, DC, Harry Potter và toàn bộ hệ sinh thái sản xuất - phát hành rạp. Các chuyên gia cảnh báo thương vụ này có thể tái định hình tương quan quyền lực giữa rạp chiếu truyền thống, streaming và sản xuất nội dung toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam lại nổi lên như một trường hợp phát triển nghịch chiều hiếm có. Năm 2025 đánh dấu mức doanh thu nội địa cao nhất trong lịch sử, không chỉ nhờ sự đa dạng của phim ra rạp mà còn bởi chất lượng sản xuất tăng đáng kể. Điều này khiến điện ảnh Việt trở thành một trong số ít thị trường tại châu Á tăng trưởng trong khi nhiều quốc gia chứng kiến sự sụt giảm mạnh.

8-mua-do.jpg -0
Với hơn 700 tỷ đồng doanh thu, phim "Mưa đỏ" đã lập kỷ lục phòng vé không chỉ ở Việt Nam.

Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng có cuộc trò chuyện với các đạo diễn, nhà phê bình điện ảnh, nhà phát hành về tương lai điện ảnh Việt Nam.

Nhà phê bình điện ảnh Lê Hồng Lâm: “Bài toán giá trị lâu dài”

- PV: Theo anh, trong bối cảnh thị trường hóa mạnh mẽ hiện nay, đâu là “điểm tựa giá trị” giúp điện ảnh Việt không trượt khỏi những chuẩn mực căn bản của nghề?

- Nhà phê bình Lê Hồng Lâm: Tôi nghĩ, những giá trị vượt trội sẽ tồn tại lâu dài. Giá trị vượt trội ở đây có thể hiểu là những giá trị mang tính bản sắc và đậm chất Việt. Chỉ khi đào sâu vào giá trị bản địa và được kể với ngôn ngữ đương đại thì mới hi vọng thành công - như cách điện ảnh Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc hay Ấn Độ chinh phục công chúng nước họ trong nhiều thập kỷ qua. Điện ảnh Việt đã qua thời “remake” mà tập trung kể những câu chuyện nguyên bản và hầu hết bộ phim thành công nhất của điện ảnh Việt năm nay đều là phim gốc. Tôi cho đó là một tín hiệu tích cực, dù chất lượng của các bộ phim “gốc” này còn chưa đồng đều và một số phim còn non yếu về nghề.

Trong một nền điện ảnh có tỉ lệ nội địa hóa mạnh, tốc độ tăng trưởng nhanh và đào thải cũng rất khắc nghiệt như điện ảnh Việt vài năm qua, đặc biệt là năm nay - đây vừa là cơ hội vàng cho những nhà làm phim tài năng và hiểu được thị hiếu công chúng nhưng cũng là một cái bẫy rất nguy hiểm cho nhiều nhà làm phim “tay mơ”. Số lượng phim “chết” tại rạp vẫn nhiều hơn số phim thành công. Nhưng, tôi nghĩ sự đào thải và thanh lọc là cần thiết.

Tăng trưởng nghịch chiều và cơ hội cho nền công nghiệp văn hóa -0

- PV: Anh nhìn nhận thế nào về việc biên độ đề tài của phim Việt những năm gần đây?

- Nhà phê bình Lê Hồng Lâm: Khi thị trường càng được mở rộng, ví dụ như năm nay thị trường phim nội địa đã vượt 3.000 tỉ đồng, sự đa dạng về đề tài và thể loại là tất yếu. Nhu cầu của khán giả tăng cao, các nhà làm phim cũng phải tìm cách để thỏa mãn công chúng. Bên cạnh dòng phim gia đình, phim kinh dị là chủ lực của vài năm trước, năm nay là sự bùng nổ của những bộ phim khai thác đề tài lịch sử, chiến tranh mang hơi hướng anh hùng ca hoặc dựa theo những câu chuyện có thật truyền cảm hứng, nhưng được kể với ngôn ngữ điện ảnh mới, mang tính đương đại và phù hợp với thị hiếu đại chúng.

Sự thành công của bộ ba “Mưa đỏ”, “Tử chiến trên không”, “Địa đạo” mở ra hướng đi mới và tôi tin trong những năm tới, điện ảnh Việt sẽ tiếp tục được mở rộng biên độ đề tài, đặc biệt là những phim khai thác bản sắc văn hóa và lòng tự hào dân tộc.

- PV: Từ góc độ phê bình, anh đánh giá ra sao về sự thay đổi của khán giả Việt trong thời gian gần đây?

- Nhà phê bình Lê Hồng Lâm: Tôi vẫn tin khán giả ra rạp với nhu cầu giải trí, nhưng yêu cầu giải trí của họ ngày càng cao hơn. Những bộ phim giải trí thành công mang tính đột phá trong năm qua minh chứng cho điều này: nhịp điệu kể chuyện nhanh, cuốn hút, hiện đại, phù hợp với thị hiếu đại chúng. Với những bộ phim có chiều sâu hay tham vọng về nghệ thuật, tôi vẫn thấy thị trường Việt Nam còn khá hẹp và khán giả đại chúng chưa mặn mà lắm. Sự thất bại (về mặt doanh thu) của “Bên trong vỏ kén vàng”, “Culi không bao giờ khóc” và đặc biệt là “Quán Kỳ Nam” mới đây là những điều rất đáng tiếc, nhưng tôi nghĩ khán giả đại chúng luôn có lý của họ.

- PV: Theo anh, phim Nhà nước và phim tư nhân hiện nay đang gặp những rào cản gì?

- Nhà phê bình Lê Hồng Lâm: Phim Nhà nước mới thực sự trở lại thị trường trong năm nay với “Mưa đỏ” và “Tử chiến trên không”. Thành công đột phá của 2 bộ phim này ngoài chất lượng khá còn phải kể đến tính thời điểm (lúc sự thăng hoa của khán giả đang dâng cao). Để tiếp tục có những bộ phim vừa thành công về thương mại, vừa đạt chất lượng, điện ảnh của Nhà nước nên tiếp tục đầu tư cho những dự án lớn, mang tính tầm vóc và được đầu tư xứng tầm. Với điện ảnh tư nhân cũng vậy, tôi nghĩ rào cản lớn nhất vẫn là chất lượng kịch bản và tài năng của đạo diễn. Hai yếu tố này quyết định rất lớn đến thành bại của một bộ phim.

- PV: Nếu nhìn về 5 năm tới, anh dự báo thị trường phim Việt sẽ vận động theo hướng nào?

- Nhà phê bình Lê Hồng Lâm: Điện ảnh Việt vẫn tiếp tục phát triển trong khoảng 7 năm nữa, trước khi đạt điểm bão hòa và đi xuống. Trong giai đoạn này, dòng phim thương mại vẫn chiếm lĩnh thị trường. Những bộ phim đạt chất lượng khá trở lên, hợp thị hiếu đám đông sẽ thành công rất lớn, trong khi những bộ phim non yếu về nghề hay lỗi thời sẽ chết rất thảm. Thị trường tạo ra những cái đỉnh và đáy cách biệt một trời một vực, dù tiền đầu tư, nhân công và thời gian bỏ ra để thực hiện một bộ phim tương đương nhau.

Sự phát triển nhanh của điện ảnh Việt trong 10 năm qua đã tạo ra được một thế hệ những nhà làm phim thương mại thành công như Trấn Thành, Lý Hải, Victor Vũ, Thu Trang... Trong 10 năm tới, tôi kỳ vọng vào một thế hệ mới giỏi nghề, dấn thân và dám khai phá những đề tài mới lạ, vượt trội hơn so với thế hệ đi trước về mặt nghề nghiệp và xuất khẩu được phim Việt ra thế giới (không chỉ cho cộng đồng người Việt ở hải ngoại). Sự xuất hiện của một vài đạo diễn có phim đầu tay thành công trong năm qua (như Dương Minh Chiến với “Truy tìm long diên hương”) là một minh chứng cho thấy thị trường rất cởi mở và đón chào những nhà làm phim trẻ tuổi có tay nghề giỏi và có đam mê.

Nhà phê bình Nguyễn Phong Việt: “Thành công phòng vé luôn thuộc về những bộ phim được chuẩn bị nghiêm”

Việt Nam năm 2025 là minh chứng rõ rệt: nhiều bộ phim thuộc nhóm đề tài khó như chiến tranh, lịch sử, điều tra - trinh thám lại trở thành hiện tượng doanh thu. Có 3 yếu tố chính tạo ra sự bứt phá này.

Thứ nhất, năm 2025 có nhiều cột mốc kỷ niệm quan trọng, tạo nền tâm lý xã hội thuận lợi cho dòng phim chiến tranh - lịch sử. Không chỉ được “đỡ” bởi truyền thông, các phim còn chạm đến tâm thức cộng đồng ở thời điểm đặc biệt, giúp người trẻ nhìn lại lịch sử dưới góc nhìn hiện đại hơn.

Thứ hai, chất lượng sản xuất của phim Việt đã khác trước rõ rệt, từ thiết kế mỹ thuật, phục trang, kỹ xảo, âm thanh đến tổ chức sản xuất đều đạt sự nhất quán cao hơn. Nhiều đoàn phim cho thấy tư duy chuyên nghiệp, không còn tình trạng “đẹp ở trailer, hụt ở phim dài” như giai đoạn 2015-2020. Thứ ba, khán giả Việt đã thay đổi. Tâm thế cởi mở, chủ động tìm kiếm và ủng hộ phim Việt tạo nên cú hích quan trọng, đúng thời điểm các thị trường khác lại đang mất dần khán giả.

Hàng loạt bộ phim như “Mưa đỏ”, “Địa đạo”, “Thám tử Kiên”, “Tử chiến trên không” hay “Truy tìm long diên hương” đạt doanh thu cao, tạo nên bức tranh sinh động chưa từng có của phim nội địa. Tuy vậy, những hiện tượng vượt mốc 700 tỷ như “Mưa đỏ” sẽ khó lặp lại nếu không có điều kiện biểu tượng tương tự. Điều quan trọng hơn là dòng phim chiến tranh - lịch sử đã tìm được vị trí ổn định, trở thành một hướng đi khả thi cho cả Nhà nước và tư nhân.

Song song với sự tăng trưởng về nội dung, thị trường Việt Nam đang bước vào giai đoạn manh nha hình thành một nền công nghiệp điện ảnh. Nhiều đạo diễn trẻ ra mắt phim đầu tay thành công, cho thấy một thế hệ mới giàu kỹ năng và tư duy thể loại rõ ràng. Các hãng tư nhân chuyển từ mô hình “đầu tư đơn lẻ” sang tư duy “mini studio”, duy trì chu kỳ sản xuất đều đặn 3-5 phim/năm, qua đó giảm rủi ro và tăng năng suất. Chất lượng biên kịch, tổ chức sản xuất và chỉ đạo nghệ thuật được cải thiện, thu hẹp đáng kể khoảng cách với chuẩn khu vực.

Tuy nhiên, sự bứt phá của nội dung lại đang va vào một rào cản lớn, đó là hạ tầng rạp chiếu. Tốc độ mở rộng cụm rạp của Việt Nam trong vài năm gần đây chậm hơn nhu cầu phát triển. Trong khi chất lượng phim tăng, số lượng phim Việt dự kiến sẽ dày đặc trong năm 2026 và cạnh tranh không còn giữa Việt Nam - Hollywood mà giữa chính phim Việt với phim Việt. Nếu lượng ghế rạp không tăng tương ứng, khả năng xuất hiện một bộ phim nội địa đạt mốc 1.000 tỷ đồng gần như không khả thi. Đây là bài toán mà ngành điện ảnh Việt phải giải ngay, nếu muốn chuyển từ giai đoạn “phim tốt hơn” sang giai đoạn “ngành công nghiệp đúng nghĩa”.

Giai đoạn 2026-2030 được dự báo sẽ định hình bản sắc điện ảnh Việt Nam. Nếu thị trường giải được bài toán hạ tầng, chuẩn hóa mô hình sản xuất, tăng cường hỗ trợ hợp tác quốc tế và chú trọng đào tạo nguồn lực, Việt Nam hoàn toàn có thể tiến tới việc xây dựng những thương hiệu phim có sức sống lâu dài, thậm chí xuất khẩu nội dung ra khu vực. Sự phát triển của phim Việt năm 2025, nghịch chiều với bối cảnh suy giảm của thế giới, cho thấy Việt Nam đang có một “cửa sổ cơ hội” hiếm có. Nhưng, để chuyển từ những hiện tượng đơn lẻ sang một nền công nghiệp ổn định, cần sự đầu tư chiến lược và tầm nhìn dài hạn từ cả nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo.

Điện ảnh Việt đang đứng trước một ngưỡng cửa mới. Nếu tận dụng được thời điểm này, đây có thể là giai đoạn đặt nền móng cho một ngành công nghiệp thực thụ, một điều mà nhiều thế hệ làm phim Việt Nam đã chờ đợi suốt hàng chục năm.

Nhà phát hành Đặng Vĩnh Hoàng: “Phòng vé không phải cuộc chơi của may rủi”

Với hơn 2 thập kỷ làm phát hành phim, Đặng Vĩnh Hoàng đã chứng kiến đầy đủ những thăng trầm của phòng vé Việt Nam, từ các cơn sốt ngắn hạn đến những bộ phim âm thầm sống lâu trong lòng khán giả.

- PV: Theo anh, yếu tố nào quyết định thành bại phòng vé nhiều nhất: nội dung, thời điểm phát hành, chiến lược truyền thông hay mạng lưới rạp?

- Đặng Vĩnh Hoàng: Nội dung là trái tim của tất cả. Thời điểm phát hành, chiến lược truyền thông hay mạng lưới rạp đều quan trọng, nhưng rốt cuộc chỉ đóng vai trò “khuếch đại”. Một bộ phim có thể được chi rất nhiều tiền cho quảng bá, tạo ra ồn ào trên mạng xã hội, nhưng nếu bản thân nó không có câu chuyện tử tế, không có cảm xúc đủ đầy và một tinh thần thực sự chạm tới người xem, thì khán giả sẽ bước ra khỏi rạp mà không giữ lại được điều gì. Tôi từng chứng kiến những bộ phim gần như không có nhiều tiền truyền thông, nhưng vì chạm được vào trái tim khán giả nên chính khán giả lại trở thành người truyền thông tốt nhất cho bộ phim đó.

Tăng trưởng nghịch chiều và cơ hội cho nền công nghiệp văn hóa -0

- PV: Có thực tế rằng, nhiều bộ phim làm rất chỉn chu nhưng vẫn thất bại ngoài rạp. Theo anh, “điểm nghẽn” nằm ở đâu: sản xuất, phát hành hay thói quen khán giả?

- Đặng Vĩnh Hoàng: Điểm nghẽn nằm ở sự thiếu hòa hợp giữa cả ba. Thị trường sôi động nhưng cũng bộc lộ nhiều lệch pha. Có phim đẹp và sáng tạo nhưng câu chuyện quá kén người xem, phim khác đặt cái tôi đạo diễn lên trên nhu cầu khán giả, cũng có dự án truyền thông rầm rộ nhưng không chạm được cảm xúc công chúng. Trong khi đó, thị hiếu thay đổi rất nhanh, đôi khi ngoài dự đoán. Vì vậy, làm phim tốt thôi chưa đủ, mà phải đúng người, đúng thời điểm và đúng nhu cầu cảm xúc, giống như gieo hạt, nếu hạt khỏe, đất hợp và thời tiết thuận thì mới nảy mầm.

- PV: Anh thấy sự thay đổi nào trong hành vi mua vé của khán giả Việt 10 năm gần đây?

- Đặng Vĩnh Hoàng: Khán giả hôm nay thông minh và chủ động hơn nhiều. Họ không còn xem phim theo cảm tính, mà đọc review, nghe bạn bè giới thiệu, theo dõi phản hồi rồi mới quyết định mua vé. Họ quan tâm cả trải nghiệm rạp lẫn chất lượng nội dung. Với những bộ phim không thuần giải trí, khán giả ngày càng sẵn sàng đón nhận nếu phim chân thật, có cảm xúc và để lại điều gì đó để suy ngẫm. Họ đến rạp không chỉ để giải trí, mà để tìm cảm xúc, và đôi khi, để nhìn thấy chính mình trong câu chuyện.

- PV: Ở góc độ phát hành, uy tín của nhà sản xuất ảnh hưởng thế nào đến suất chiếu và thời gian trụ rạp?

- Đặng Vĩnh Hoàng: Khi xếp lịch, các cụm rạp luôn cân nhắc kinh nghiệm của nhà sản xuất, độ tin cậy của đạo diễn và những tín hiệu thị trường sớm của dự án. Uy tín giúp phim có ngày ra rạp đẹp và suất chiếu thuận lợi. Nhưng, để trụ lâu thì không thể nhờ uy tín nữa, mà phụ thuộc hoàn toàn vào khán giả. Khi họ truyền nhau rằng phim đáng xem, rạp sẽ tự tăng suất chiếu. Đó là quy luật cung - cầu của thị trường, không phải sự ưu ái.

- PV: Nếu nhìn thuần túy từ số liệu, anh đánh giá thế nào về khả năng sinh lợi của phim làm bài bản so với phim chạy theo trào lưu?

- Đặng Vĩnh Hoàng: Phim theo trào lưu thường bùng lên rất nhanh rồi tắt nhanh, rủi ro cao và doanh thu dễ hụt sau vài ngày. Ngược lại, những bộ phim được làm chỉn chu và hướng tới giá trị lâu dài thường có vòng đời bền hơn: trụ rạp ổn định, doanh thu đều, dễ bán bản quyền và còn được khai thác nhiều năm sau. Nếu xét bằng số liệu, nhóm phim này an toàn và sinh lợi dài hạn hơn. Thị trường có thể biến động từng ngày, nhưng sự chỉn chu thì không bao giờ lỗi thời.

Khán giả có thể quên quảng cáo rất nhanh, nhưng họ luôn nhớ cảm xúc mà bộ phim để lại. Người làm phim vì thế phải hiểu thị trường, không phải để chạy theo trào lưu, mà để nói đúng điều khán giả cần nghe bằng giọng điệu của chính mình. Hiểu thị trường cũng là hiểu ai sẽ xem phim, họ thuộc nhóm tuổi nào, mong đợi điều gì và vì sao họ chọn bộ phim của bạn giữa hàng trăm lựa chọn khác.

Và, quan trọng nhất, phải làm kỹ từng khâu. Chỉ một mắt xích lỏng lẻo, từ trailer sai tinh thần, poster nhắm sai tệp, đến lịch chiếu đặt lệch thời điểm, đều có thể khiến cả bộ phim thất bại. Ngược lại, khi mọi bộ phận làm tròn vai và nâng đỡ lẫn nhau, phim sẽ có cơ hội sống lâu hơn rất nhiều. Phòng vé không phải cuộc chơi của may rủi, mà là cuộc chơi của chuẩn bị, kỷ luật và trách nhiệm với khán giả.

Nhà báo Hoàng Tuấn, Tổng Biên tập Tạp chí Thế giới điện ảnh: “Điện ảnh trước cơ hội của kỷ nguyên công nghiệp văn hóa”

Sự phát triển của phim Việt vài năm gần đây không chỉ thể hiện ở những con số phòng vé, mà quan trọng hơn, nằm ở sự thay đổi căn bản trong cách làm nghề và cách thị trường tự vận hành. Đây là những dấu hiệu cho thấy điện ảnh Việt đang bước vào giai đoạn tinh lọc và tiến dần tới mô hình công nghiệp văn hóa, nơi chất lượng, chuẩn nghề và năng lực cạnh tranh trở thành trục chính của toàn ngành.

Những chuyển biến tích cực đầu tiên bắt đầu từ chính các nhà sản xuất. Kịch bản được đầu tư kỹ hơn, xu hướng vay mượn hoặc remake dễ dãi, vốn phổ biến một thời, đã giảm rõ rệt. Biên kịch không còn bị xem là “khâu phụ” mà được tham gia từ giai đoạn sớm, đồng hành suốt quá trình sản xuất để bảo đảm mạch kể thống nhất. Quy trình tiền kỳ, vốn trước đây thường bị làm qua loa, nay được chú trọng với storyboard, thiết kế sản xuất, cố vấn nghệ thuật và cố vấn chuyên ngành, chiếm khoảng 30-40% tổng kinh phí phim. Tất cả tạo nên một hệ sinh thái làm nghề bài bản hơn, phản ánh sự chuyển dịch từ sản xuất theo cảm hứng sang sản xuất theo chuẩn.

Tăng trưởng nghịch chiều và cơ hội cho nền công nghiệp văn hóa -0

Đội ngũ làm phim được chuyên môn hóa sâu hơn; khâu hậu kỳ ngày càng đạt tiêu chuẩn quốc tế; và sự trở lại của phim Nhà nước bên cạnh sự trỗi dậy của phim độc lập đã mở rộng biên độ sáng tạo cho thị trường. Theo tôi, thành công của “Mưa đỏ”, “Tử chiến trên không” hay nhiều phim độc lập đoạt giải quốc tế thời gian qua là minh chứng rằng điện ảnh Việt không chỉ tăng doanh thu mà còn đang nâng chuẩn nghệ thuật, điều kiện cần để một ngành công nghiệp văn hóa hình thành đúng nghĩa.

Tôi cho rằng, chất lượng vẫn là yếu tố quyết định “tuổi thọ” của một bộ phim trên thị trường hiện nay. Những chiến dịch truyền thông rầm rộ hay tên tuổi ngôi sao có thể giúp phim mở màn suôn sẻ, nhưng chỉ trong thời gian rất ngắn. Sự tồn tại lâu dài của một tác phẩm phụ thuộc vào việc nó có thực sự chạm tới khán giả hay không. Một bộ phim tốt có thể tiếp tục được xem lại, được khai thác ở nhiều thị trường, được bàn luận và nhắc tới sau nhiều năm. Ngược lại, những phim chỉ dựa vào hiệu ứng bề mặt thường tắt lửa nhanh chóng; đây chính là cơ chế tự điều tiết của thị trường Việt Nam khi bước vào giai đoạn phát triển mới: phim tốt có đường đi, phim yếu sẽ bị loại bỏ.

Sự thay đổi mạnh mẽ của khán giả là một trong những lực đẩy quan trọng giúp thị trường chuyển mình. Khán giả trẻ ngày nay không mua vé theo cảm tính mà thường tìm hiểu qua review dài, podcast, phân tích chuyên sâu trước khi quyết định đến rạp. Họ đặt câu hỏi nhiều hơn: phim nói gì về xã hội, phim có tiếng nói riêng không, có giá trị nghệ thuật hay tư tưởng đáng để suy ngẫm không. Chính sự trưởng thành này đã giúp nhiều bộ phim nhỏ nhưng tốt bất ngờ thắng lớn, đồng thời buộc các nhà sản xuất phải nâng tiêu chuẩn từ khâu đầu tiên.

Tôi nghĩ rằng, 5 năm tới điện ảnh Việt sẽ bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh thay vì tiếp tục bùng nổ ồ ạt. Số lượng phim mỗi năm có thể không giảm, nhưng sự đào thải sẽ gay gắt hơn. Những nhà sản xuất yếu chuyên môn khó có thể trụ lại, trong khi các dự án hợp tác quốc tế, phim Nhà nước có tính thị trường, phim độc lập và phim series sẽ xuất hiện nhiều hơn. Các công nghệ mới, đặc biệt là AI, sẽ tác động mạnh tới quy trình làm phim, buộc ê-kíp sáng tạo phải thích ứng và nâng cấp năng lực liên tục. Thị trường không thu hẹp, nhưng chắc chắn sẽ trở nên tinh lọc và khắt khe.

Điện ảnh Việt đang đi vào một giai đoạn đặc biệt. Khi thế giới còn đang loay hoay tìm lại đà tăng trưởng, Việt Nam lại xuất hiện những cơ hội hiếm có để bước vào quỹ đạo phát triển mới. Nhưng, cơ hội chỉ trở thành hiện thực nếu thị trường tiếp tục xây dựng chất lượng như trụ cột, chuẩn nghề như công cụ, và khán giả như trung tâm. Đây chính là con đường để điện ảnh trở thành một ngành công nghiệp văn hóa đúng nghĩa trong tương lai gần.

Đạo diễn Đặng Thái Huyền: “Phải giữ được sự tử tế”

- PV: Với chị, đâu là “nguyên tắc không được phá vỡ” khi làm một bộ phim, trong bối cảnh áp lực thị trường luôn rất lớn?

- Đạo diễn Đặng Thái Huyền: Phải tôn trọng cảm xúc của chính mình. Tôi chỉ bắt tay vào làm một bộ phim khi mình thực sự cảm được, yêu được và rung động trước câu chuyện. Bởi, nếu bản thân mình chưa có cảm xúc tận cùng với nó, tôi không tin mình có thể thuyết phục khán giả rung động theo.

Tăng trưởng nghịch chiều và cơ hội cho nền công nghiệp văn hóa -0
Đạo diễn Đặng Thái Huyền.

- PV: “Mưa đỏ” chinh phục khán giả bằng cảm xúc chiến tranh rất kìm nén và nhân văn. Đâu là lựa chọn khó khăn nhất giữa hiệu quả phòng vé và sự trung thực với lịch sử?

- Đạo diễn Đặng Thái Huyền: Khó nhất là kể được một câu chuyện lịch sử với sự tôn trọng tối đa đối với sử liệu, không né tránh những đau đớn, bi tráng, nhưng cũng không để khán giả trẻ cảm thấy xa lạ, khô cứng hay mang màu sắc giáo điều, tuyên truyền một chiều.

- PV: Chị nhìn nhận mối quan hệ giữa chất lượng nghệ thuật, niềm tin khán giả và kết quả doanh thu ra sao?

- Đạo diễn Đặng Thái Huyền: Tôi luôn nghĩ ba yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau. Chất lượng nghệ thuật tạo ra giá trị lâu dài cho bộ phim. Niềm tin của khán giả là thứ không thể mua bằng truyền thông, mà phải tích lũy từ sự tử tế của người làm nghề. Doanh thu là kết quả cuối cùng, nhưng chỉ bền vững khi hai yếu tố kia đủ vững. “Mưa đỏ” có thể tạo được dấu ấn phòng vé không chỉ vì là phim chiến tranh quy mô lớn, mà còn vì khán giả cảm nhận được sự trân trọng mà ê-kíp dành cho câu chuyện.

- PV: Là người từng làm việc ở cả môi trường phim Nhà nước và tư nhân, chị thấy sự khác biệt nào là lớn nhất?

- Đạo diễn Đặng Thái Huyền: Tôi cho rằng, khác biệt lớn nhất nằm ở cách thức tổ chức và vận hành. Với phim Nhà nước, quy trình thường rất chặt chẽ, thủ tục nhiều. Để một bộ phim triển khai phải mất nhiều thời gian từ khâu xây dựng kế hoạch, lập dự toán... đôi khi khi phim được thực hiện thì nội dung đã qua mất “độ nóng”, lỡ mất tính thời điểm.

- PV: Chị muốn gửi gắm điều gì tới lớp đạo diễn trẻ?

- Đạo diễn Đặng Thái Huyền: Tôi muốn nhắn với các bạn, hãy đi chậm lại một chút và lắng nghe chính mình nhiều hơn. Điện ảnh Việt Nam đang có một sức sống mới, mạnh mẽ và bùng nổ. Nhưng, để đi đường dài, người đạo diễn phải giữ được sự tử tế, kỷ luật nghề nghiệp và lòng tôn trọng khán giả. Hãy kể những câu chuyện mà bạn thực sự tin và thực sự yêu.

Dương Thái Sơn (thực hiện)

Các tin khác

Thụy Sỹ tạm tránh được “khoảnh khắc Brexit” của riêng mình

Thụy Sỹ tạm tránh được “khoảnh khắc Brexit” của riêng mình

Ngày 14/6, hơn 59% cử tri Thụy Sĩ đi bỏ phiếu cho cuộc trưng cầu dân ý về đề xuất giới hạn dân số ở mức 10 triệu người vào năm 2050. Gần 55% phản đối, 45% ủng hộ - khoảng cách đủ để ngăn một cuộc va chạm có thể định hình lại quan hệ giữa Bern và Brussels trong nhiều thập niên tới nhưng vẫn còn những bất đồng.

Cuộc chia tay với vị trí trung tâm

Cuộc chia tay với vị trí trung tâm

Một buổi chiều cuối tháng 5/2026, trên mạng xã hội xuất hiện hàng loạt dòng trạng thái của các nhà báo kỳ cựu. Có người chia sẻ lại hình ảnh những tòa soạn từng gắn bó nhiều năm, có người nhắc tên những tờ báo đã trở thành một phần ký ức của đô thị Sài Gòn, cũng có người chỉ lặng lẽ đăng một dấu chấm lửng. Những chia sẻ ngắn ngủi ấy phản ánh tâm trạng của những người đang chứng kiến một bước chuyển quan trọng của báo chí thành phố trong tiến trình sắp xếp, tinh gọn hệ thống cơ quan báo chí.

Vài nghịch lý trong báo chí hiện đại

Vài nghịch lý trong báo chí hiện đại

Trong suốt thời gian vừa qua, báo chí đã trở thành một trong những tâm điểm quan tâm của xã hội. Đầu tiên là câu chuyện sắp xếp lại các cơ quan báo, đài, truyền hình ở các địa phương. Sau đó là những thông tin về việc sẽ xử lý các vi phạm sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí mà điển hình nhất là việc chia sẻ lại các sản phẩm báo chí trên mạng xã hội. Trước đó không lâu, chuyện “báo chí hóa mạng xã hội” cũng đã từng được nhắc tới không ít lần. Tất cả đều cho thấy đang có một dịch chuyển mang tính bước ngoặt đối với báo chí hiện đại Việt Nam hôm nay.

Sợi chỉ vô hình

Sợi chỉ vô hình

Khoảng 5 năm trước, khi bước vào ngôi nhà của một nhân vật cần khai thác cho bài báo dài của mình về chuyên đề biến đổi khí hậu, tôi không nghĩ rằng mình sẽ ám ảnh cho đến tận bây giờ.

Kỳ 2: Điệp viên Ares và Chuyên án BK63

Kỳ 2: Điệp viên Ares và Chuyên án BK63

Tháng 4/1961, sau khi huấn luyện kỹ lưỡng, điệp viên đơn tuyến Phạm Chuyên, bí danh Ares, xâm nhập miền Bắc Việt Nam bằng đường biển, mở màn chiến dịch của CIA đưa gián điệp biệt kích phá hoại miền Bắc. Theo kế hoạch, sau khoảng 1 đến 2 năm, khi đã gây dựng được cơ sở vững và guồng máy hoạt động tốt, Phạm Chuyên có thể chọn người thay thế và trở lại miền Nam. Trong trường hợp bị lộ, Chuyên rút vào rừng trốn, chờ Trung tâm đưa tàu ra đón bằng đường biển…
Nhưng Phạm Chuyên không ngờ mình lại trở thành nhân vật chính trong một chuyên án vô tiền khoáng hậu của lực lượng Công an miền Bắc.

Tôi tin Việt Nam sẽ xây dựng được một ngành công nghiệp điện ảnh thành công

Tôi tin Việt Nam sẽ xây dựng được một ngành công nghiệp điện ảnh thành công

Michael L. Gray là một người viết đã 30 năm gắn bó với Việt Nam, đang hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh, hiện tham gia nhiều dự án cùng các hãng phim và nhà sản xuất tại TP Hồ Chí Minh. Với khán giả điện ảnh Việt Nam, Michael được biết tới qua bút danh Anh Mai, đồng biên kịch phim “Long Ruồi” – bộ phim hài hành động do Charlie Nguyễn đạo diễn, từng trở thành hiện tượng phòng vé năm 2011. Michael hiện đang hoàn thành một tập truyện ngắn bằng tiếng Việt và đồng thời tham gia phát triển nhiều dự án điện ảnh mới.
Trong cuộc trò chuyện với CTV Chuyên đề An ninh thế giới Giữa tháng - Cuối tháng, Michael L. Gray nói nhiều tới cấu trúc kịch bản điện ảnh và tương lai của điện ảnh Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Khi yêu thương biến thành thù hận

Khi yêu thương biến thành thù hận

Đầu năm 2026, liên tiếp các vụ án mạng do ghen tuông, mâu thuẫn tình cảm xảy ra tại Tuyên Quang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Nghệ An… để lại nhiều bi kịch đau lòng. Từ những xung đột tưởng chừng rất nhỏ, nhiều người đã trượt dài trong cơn cuồng ghen, biến yêu thương thành tội ác.

Làm sao có thể “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”?

Làm sao có thể “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”?

Muốn xuất bản một chương trình âm nhạc nghiêm túc, ít nhất riêng phần nhạc cần thuê nhạc sĩ phối khí, dàn nhạc giao hưởng, ban nhạc nhẹ, dàn nhạc dân tộc, ca sĩ, hợp xướng, thu âm, hậu kỳ. Nhìn cấu hình, có thể áng được tiền tỷ theo nhân lực. Dàn nhạc nhẹ có thể chỉ từ 5-10 nhạc công nhưng dàn giao hưởng thì ít cũng khoảng 80 người. Nếu cứ thế thì làng nhạc làm không hết việc. Nhưng, công nghệ đã làm thay đổi tất cả...

Nhạc sĩ trước “đôi thủ” AI

Nhạc sĩ trước “đôi thủ” AI

AI (trí tuệ nhân tạo) ngày càng ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống. Trong sáng tác âm nhạc, AI đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ, từ hỗ trợ nhạc sĩ viết giai điệu đến hòa âm phối khí, thể hiện tác phẩm. AI là một “cộng sự” đắc lực hay mang đến những thách thức với người làm âm nhạc và đâu là dấu ấn cá nhân trong thời đại công nghệ lên ngôi là những vấn đề nhiều người băn khoăn...

Những băn khoăn trước nguy cơ di tích văn hóa Sa Huỳnh bị biến dạng

Những băn khoăn trước nguy cơ di tích văn hóa Sa Huỳnh bị biến dạng

Hơn một thế kỷ nay, kể từ khi được phát hiện năm 1909, văn hóa Sa Huỳnh nói chung và di tích quốc gia đặc biệt Văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) nói riêng được các chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá là một "trầm tích lịch sử sống". Hiện di tích khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh đang hướng tới là Di sản văn hóa thế giới.

Các chuyên gia nói gì về “khu đất vàng” 19 Lê Thánh Tông?

Các chuyên gia nói gì về “khu đất vàng” 19 Lê Thánh Tông?

Đề xuất di dời Trường Đại học Dược Hà Nội, Khoa Hóa học (Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội) để chuyển không gian “Đại học Tổng hợp Hà Nội” tại 19 Lê Thánh Tông thành khu Bảo tàng Đại học thời đại Hồ Chí Minh, là một phương án có trong dự thảo đồ án quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Những ngày qua, thông tin này đã trở thành tâm điểm thu hút dư luận với những luồng ý kiến trái chiều...

Hành trình hồi hương của những phận người lầm lỡ

Hành trình hồi hương của những phận người lầm lỡ

“Việc nhẹ, lương cao”, “thế giới tự do”, “không cần lao động vẫn có cuộc sống sung túc, được bảo lãnh đi định cư tại các nước thứ ba như Mỹ, Canada, Australia”... Đó là những lời dụ dỗ khiến một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tin theo và di cư bất hợp pháp sang Thái Lan mong được “đổi đời”.

Muôn vẻ sáng tác ca khúc theo “đơn đặt hàng”

Muôn vẻ sáng tác ca khúc theo “đơn đặt hàng”

Trong đời sống âm nhạc, nhiều tác phẩm ra đời theo “đơn đặt hàng” hay yêu cầu, mong muốn nào đó không phải là điều xa lạ. Nhưng vượt ra khỏi mục tiêu ban đầu, nhiều tác phẩm đã ghi dấu ấn bền vững trong lòng công chúng. Đơn đặt hàng - tưởng chừng là khuôn khổ - lại giống như chiếc khung để nhạc sĩ vẽ lên những bức tranh âm nhạc sống động và nhiều điều thú vị.

Họa sỹ Trần Đại Thắng: Bước cùng sách từ bờ sông Đà năm ấy

Họa sỹ Trần Đại Thắng: Bước cùng sách từ bờ sông Đà năm ấy

Trần Đại Thắng chưa bao giờ thực sự rời sông Đà. Dòng sông ấy vẫn lững lờ trong từng trang sách anh làm, trong mùi giấy in thoang thoảng, trong cả những đêm khuya anh ngồi viết lại chính đời mình. Từ cậu bé 6 tuổi mê mẩn ngắm những cuốn sách Nga trong một hiệu sách bên kia dòng sông Đà đến người dựng nên Đông A Books, Thắng chỉ làm một việc, giữ cho sách không trở thành một thứ thoáng qua. Cuốn "Tôi kể" dày 500 trang không phải lời kết. Chỉ là một lần nữa, anh lật giở ký ức, để xem tất cả những chi tiết nhỏ bé anh đã dành cả đời chăm chút, liệu có đủ nặng để níu lại một chút gì đó giữa dòng đời đang trôi quá vội.

Hệ sinh thái web lậu và cá độ phía sau Xôi Lạc TV

Hệ sinh thái web lậu và cá độ phía sau Xôi Lạc TV

Sau gần một thập kỷ hoạt động trên không gian mạng, hệ thống phát sóng bóng đá lậu Xôi Lạc TV vừa bị Cơ quan công an triệt phá, khởi tố hàng chục đối tượng liên quan. Đằng sau những đường link xem bóng đá miễn phí tưởng chừng vô hại là cả một "hệ sinh thái" web lậu vận hành theo kiểu "đầu rắn nhiều thân", gắn chặt với quảng cáo cá cược và dòng tiền ngầm có quy mô lớn.

Hà Lan mới chỉ dăm ngày

Hà Lan mới chỉ dăm ngày

Tôi quyết định làm chuyến “du lịch bụi” đến Hà Lan vào những ngày cuối năm 2025. Với tôi, đây thật sự là chuyến đi đáng nhớ, bởi Hà Lan không chỉ có kênh đào thơ mộng, cối xay gió, cánh đồng hoa Tulip rực rỡ, văn hóa xe đạp độc đáo mà còn là mảnh đất có nhiều điều để khám phá.

Công nghiệp văn hóa Việt Nam sau những cú hích năm 2025

Công nghiệp văn hóa Việt Nam sau những cú hích năm 2025

Năm 2025, lịch sử và âm nhạc cùng lúc tìm được đường trở lại đời sống đương đại. Những bộ phim chiến tranh như "Mưa đỏ" đã lập kỷ lục doanh thu phòng vé với doanh thu trên 700 tỷ đồng; các chương trình Đại nhạc hội quy mô lớn thắp sáng không gian công cộng bằng cảm xúc tập thể, concert "Tổ quốc trong tim" thu hút 50.000 khán giả, Concert "Rạng rỡ Việt Nam" sau vài giờ mở bán đã cháy vé, cho thấy dư địa để phát triển công nghiệp văn hóa rất lớn. Vấn đề là làm thế nào để biến những khoảnh khắc bùng nổ ấy thành một chiến lược phát triển bền vững cho ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam.

Cuộc đua xe tự lái: Cạnh tranh trong hợp tác ở London

Cuộc đua xe tự lái: Cạnh tranh trong hợp tác ở London

Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị không ngừng leo thang, một mô hình hợp tác độc đáo đang hình thành ngay tại trung tâm châu Âu. Thủ đô London của nước Anh sắp trở thành thành phố đầu tiên trên thế giới chứng kiến xe tự lái của hai gã khổng lồ công nghệ đến từ Mỹ và Trung Quốc cùng vận hành. Sự hiện diện song hành này không đơn thuần là một cuộc đua công nghệ, mà còn mở ra một lối đi mới, nơi những đối thủ toàn cầu cùng phát triển dưới một khung pháp lý chung, mang đến hy vọng về khả năng phối hợp trong một lĩnh vực then chốt của tương lai.

Khi “an toàn” chỉ là một khái niệm

Khi “an toàn” chỉ là một khái niệm

Năm 2001, khán giả đã hồi hộp dõi theo những pha hành động và đấu trí trong bộ phim Oceans Eleven (11 tên cướp thế kỷ) về một vụ cướp casino được dàn dựng tinh vi đến mức hoàn hảo ở Los Angeles. Và cuối năm 2025, khi nước Đức đang yên bình tận hưởng kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, một vụ cướp ngân hàng táo bạo, với những tình tiết ly kỳ như phim điện ảnh, đã khiến người ta không khỏi bàng hoàng.