Tại sao thiếu vắng những người trẻ?

Một trong những thực tế nhãn tiền của phê bình văn học Việt Nam nhiều năm nay là sự “hụt hơi” về lực lượng. Người tham gia viết phê bình văn học ở ta vốn chẳng được bao lăm, mà phần lớn trong số đó đều ít nhất đã chạm đến cái ngưỡng “tri thiên mệnh”.

Những người này – gọi một cách ước định là các “nhà phê bình văn học già” – khi nhìn về thế hệ kế tiếp hẳn sẽ không tránh được những lúc phải giật mình. Vì cái gọi là các “nhà phê bình văn học trẻ” hiện nay - tạm quy ước họ ở độ tuổi từ 40 trở xuống - về số lượng, tôi có thể mạnh dạn khẳng định là không đếm hết số ngón trên hai bàn tay. Chuyện sẽ chẳng là gì cả nếu chúng ta coi phê bình văn học là thứ có cũng được mà không có cũng xong.

Nhưng nếu chúng ta chấp nhận với nhau rằng phê bình văn học là sự tự nhận thức của văn học, là mặt thứ hai không thể tách rời của một tiến trình văn chương, thì rõ ràng sự “hụt hơi” về lực lượng của phê bình văn học Việt Nam hiện nay là điều cần phải được cắt nghĩa. Theo tôi, không khó để nhận ra vài nguyên nhân chủ yếu.

1. Sự “khô đạo” với văn chương. Điều này liên quan đến một thực tế xã hội mà lâu nay người ta vẫn chỉ định bằng cụm từ “sự xuống cấp của văn hóa đọc”.

Chẳng có dẫn chứng nào hùng hồn hơn cho sự  xuống cấp của văn hoá đọc bằng cái việc ở một đất nước chín mươi triệu dân mà mỗi đầu sách văn học – cho dẫu đó là danh tác của thế giới – khi in ra thường chỉ ở mức một nghìn bản, và nếu leo lên đến con số vạn thì đã được xem như một thắng lợi lớn. Quy luật cung/ cầu của thị trường cho ta biết, đáp án của vấn đề nằm ở phía người đọc, nhất là những người trẻ tuổi.

Nhìn ở diện rộng, người trẻ tuổi ngày hôm nay đã khác người trẻ tuổi ngày hôm qua. Mặt bằng học vấn của họ có thể cao hơn thế hệ cha anh họ, nhưng tình yêu với văn chương, cái tinh thần ham đọc, sự háo hức của họ khi đi tìm sách hoặc sự vồ vập của họ trước cuốn sách đang cầm trên tay thì rõ ràng đã “tụt” thê thảm so với trước (đáng buồn là trong số đó không ít người đang hoạt động trong các ngành văn hoá).

Tôi không có tham vọng giải thích cho ra nguồn cơn chuyện này mà chỉ muốn nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh sự “khô đạo” với văn chương đã ở mức báo động như vậy, thì mơ ước về một lực lượng hùng hậu của những người trẻ tuổi tham gia viết phê bình văn học sẽ chỉ là một mơ ước hão huyền. Bởi, nhà phê bình văn học trước hết phải là một người đọc, một người đọc chung thủy và đầy say mê với văn chương, như một người tình. Không thể khác thế.

2. Tính nghiệp dư của hoạt động phê bình văn học. Nếu hiểu khái niệm “chuyên nghiệp” theo nghĩa chật hẹp là “một nghề có thể giúp người ta sống được bằng việc thực hành chính cái nghề ấy”, thì tôi dám nói rằng ở Việt Nam chưa bao giờ có nhà phê bình văn học chuyên nghiệp.

Từ trước đến nay, chẳng nhà phê bình văn học nào có thể sống được chỉ bằng việc viết phê bình. Họ - nhà phê bình văn học - vốn xuất thân là nhà báo, là nhà giáo, là biên tập viên ở các nhà xuất bản, là chuyên viên ở các viện nghiên cứu...

Họ sống bằng những nghề ấy và đến với phê bình văn học chỉ bởi tình yêu văn chương, bởi nhu cầu được chia sẻ sự quan tâm tới văn học của mình với những người khác. Nhưng, nếu những nhà phê bình văn học thế hệ trước có nhiều thời gian (ngoài công việc chính) dành cho việc viết phê bình hơn, thì những người trẻ tuổi có tiềm năng trở thành nhà phê bình văn học hôm nay lại rất eo hẹp về thời gian. Đúng hơn là đã có một sự khác đi về giá trị thực tế của thời gian trong đời sống.

Thế hệ trước (khi họ còn trẻ) hầu hết đều yên tâm sống với đồng lương công chức chẳng lấy gì làm dư dả của mình, thời gian (ngoài công việc chính) của họ về cơ bản là thời gian chết, nếu xét từ quan điểm sinh lợi. Còn với thế hệ trẻ hôm nay, gần như toàn bộ thời gian đã được huy động vào những công việc phục vụ trực tiếp cho các nhu cầu đời sống - vốn đã trở nên phong phú gấp bội so với trước.

Vì thế, theo tôi, việc những người trẻ hôm nay viết phê bình văn học có thể phải được xem như một sự hy sinh thời gian. Đã là hy sinh thì chẳng mấy ai sẵn sàng, mà ngay cả những người có thể hy sinh thì không phải lúc nào cũng dám hy sinh. Một ví dụ: hơn chục năm trước, chắc nhiều người còn nhớ, một cây bút phê bình trẻ xuất hiện trên văn đàn. Sắc sảo, tài hoa, cây bút phê bình trẻ ấy khiến cho văn giới hy vọng ở anh một sự nghiệp phê bình văn học bề thế trong tương lai. Nhưng chỉ hai ba năm sau đó anh biến mất, và biến mất đến tận bây giờ.

Hỏi ra mới biết, nhà phê bình trẻ vốn là một nhà kinh doanh có thu nhập vài nghìn USD/ tháng, tức là khoảng 100, trên 100 USD/ ngày. Sẽ không có gì khó hiểu nếu anh từ chối bỏ ra dăm ba ngày, một tuần (hoặc hơn nữa) để viết một bài phê bình với mức nhuận bút 5 hoặc 6 trăm ngàn đồng (nếu được đăng).

Tôi tin rằng anh vẫn là một người đọc văn học lý tưởng, nhưng để một người đọc văn học trở thành một nhà phê bình văn học, điều kiện tiên quyết là anh phải đầu tư thời gian để viết ra cái đọc của mình. Đó mới thực sự là điều đáng nói.

3. In ở đâu? Ai đọc? Tôi cứ giả định rằng những người trẻ tuổi có tiềm năng trở thành nhà phê bình văn học hiện nay ai nấy đều sẵn sàng hy sinh thời gian cho việc viết phê bình. Nhưng lập tức có ngay một câu hỏi to đùng: in ở đâu?

Theo sự phân loại về phê bình văn học của Albert Thibeaudet, chúng ta có phê bình của các giáo sư, phê bình của các nghệ sỹ và phê bình của các nhà báo. Nhưng dù là phê bình của ai chăng nữa thì phương thức tồn tại và lưu truyền chủ yếu nhất của sản phẩm phê bình (bài viết) vẫn là ở trên mặt báo. Có điều, với báo chí đang vận hành trong cơ chế kinh tế thị trường như hiện nay, phê bình văn học không phải “món” có thể giúp báo bán chạy nên cũng chẳng được hoan nghênh cho lắm.

Nếu báo có cần, là cần những bài điểm sách thật hấp dẫn chứ không phải cần những bài phê bình văn học giàu hàm lượng học thuật. Kể ra thì vẫn có một vài địa chỉ báo chí cho phê bình văn học, như tuần báo “Văn nghệ” hoặc tạp chí “Văn nghệ quân đội”.

Tuy nhiên, với một số trang hạn chế và một quan điểm (không công khai) về sự “tua vòng”, nhà phê bình văn học nào đó dù có viết khỏe đến mấy thì một năm cũng chỉ xuất hiện trên hai tờ báo này khoảng ba, bốn lần là cùng. Nghĩa là, về “đầu ra” của phê bình văn học, chẳng có mấy sự kích thích để những người trẻ tuổi muốn viết phê bình chịu lao vào công việc này.

Vẫn còn một câu hỏi nữa: nếu viết ra, được in, thì rồi ai sẽ đọc? Tôi đã đề cập sự “khô đạo” với văn chương ở phần trên của bài viết. Trong một không khí tiếp nhận nhạt nhẽo đến như vậy đối với sáng tác văn chương, người lạc quan nhất cũng chẳng thể hy vọng rằng phê bình sẽ được tiếp nhận theo một cách ít nhạt nhẽo hơn.

Có một điều tôi muốn nói thêm ở đây, rằng không chỉ là bạn đọc thông thường mới có thái độ nhạt nhẽo với phê bình, mà một bộ phận khá đông những người sáng tác ở ta cũng vậy.

Câu đầu miệng của họ mỗi khi nói đến phê bình là “chẳng có gì, chẳng liên quan, chẳng giúp được chút nào cho những người sáng tác chúng tôi”, nhưng tôi biết, không ít người trong số họ chẳng bao giờ chịu đọc cho trọn vẹn và cẩn thận một bài phê bình, trừ khi đó là bài viết ca ngợi tác phẩm của họ. (Xin được mở một ngoặc đơn để nói thêm về chuyện này: Những người sáng tác ấy, không hiểu sao, đa phần trong số họ rất thích thú với một giai thoại về cụ Nguyễn Tuân, và họ luôn nhai đi nhai lại câu cụ nói: Khi tôi chết hãy chôn theo cạnh tôi một nhà phê bình để tôi có bạn đặng còn cãi nhau dưới suối vàng cho đỡ buồn. Đấy là câu nói tầm phào, nhưng của một bậc thầy đích thực. Mà trên đời này thì có mấy bậc thầy đích thực đâu, nên cũng dễ thể tất).

Nói chung, câu hỏi “ai đọc?” vẫn luôn là một nan đề đối với những ai định viết phê bình văn học hiện nay. Tôi từng có dịp hỏi một nhà phê bình “già”, người đã có ba bốn mươi năm đeo bám, “ăn chịu” với nghề, rằng tại sao lâu nay không thấy ông viết. Trả lời: “Có ai thèm quan tâm đâu, viết để làm gì?”. Có lẽ, câu trả lời của nhà phê bình văn học “già” này cũng nên được xem như một trong những đáp án cho câu hỏi “Vì sao hiện nay lại thiếu vắng những người trẻ viết phê bình văn học?”.

Vĩ thanh

Mặc dù vậy, vẫn nên thống nhất với nhau rằng bao giờ và ở đâu cũng thế thôi, người viết phê bình (cả trẻ lẫn già) luôn gần như là một thứ của hiếm trong văn chương. Người ta không thể hình dung về những người viết phê bình như một trùng điệp đội ngũ được, và có lẽ đấy cũng chính là một trong những yếu tố làm nên cái “giá” nhất định của phê bình.

Cắt nghĩa, nhìn nhận những nguyên nhân của sự thiếu vắng những người trẻ viết phê bình là một chuyện, nhưng với cá nhân tôi, tôi tin tưởng vào những người và những gì mà phê bình trẻ Việt Nam hiện đang có.

Ở Viện Văn học là Đỗ Hải Ninh, Đoàn Ánh Dương, Trần Thiện Khanh. Ở tạp chí Văn nghệ Quân đội là Nguyễn Thanh Tâm, Hoàng Đăng Khoa, Đoàn Minh Tâm. Ở Đại học Sư phạm Hà Nội là Trần Ngọc Hiếu. Ở Đại học Văn hóa là Mai Anh Tuấn. Ở Huế là Thái Phan Vàng Anh, Phan Tuấn Anh, Nguyễn Văn Hùng. Rồi ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quy Nhơn, Quảng Bình… Sơ sơ kể ra mấy bút danh phê bình trẻ như thế, lại thấy là đã quá số ngón trên hai bàn tay.

Hoài Nam

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?