Tạ Hữu Yên - Người gieo thơ giữa nhân quần

Có những con người sống trọn một kiếp đời để viết nên những bài ca cho dân tộc. Khi họ rời cõi tạm, lời ca vẫn còn ngân vang - như thể chưa từng khuất bóng. Đại tá, nhà thơ Tạ Hữu Yên (1927-2013) là một người như thế: người lính cầm bút, người thi sĩ bình dị, người kể chuyện cách mạng bằng thơ. Thơ ông không chỉ là những vần điệu, mà là lời chứng sống động về một thế kỷ đầy biến động và lạc quan của dân tộc.

Một đời lính, một đời thơ

Sinh ra tại mảnh đất thiêng Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, Tạ Hữu Yên mang trong mình cốt cách của người dân đồng bằng Bắc Bộ: cứng cỏi, khiêm nhường và gắn bó tha thiết với đất nước, nhân dân. Ông sớm theo cách mạng, vào bộ đội năm 1948, rồi trưởng thành trong quân ngũ qua nhiều vai trò: phóng viên, biên tập viên, người làm công tác địch vận, nhà xuất bản…

Tạ Hữu Yên - Người gieo thơ giữa nhân quần -0
Nhà thơ Tạ Hữu Yên.

Ông đi qua chiến tranh với ba lô lính và cuốn sổ tay, nơi ghi chép những dòng thơ phơi sương, ngấm khói lửa chiến trường và thấm đẫm tình người. Những năm tháng đó đã hun đúc nên một tâm hồn thơ đặc biệt - không “lên gân”, không phù phiếm - mà là thứ thơ thấm vào lòng như bát nước mưa đầu nguồn, như lời mẹ ru ban chiều.

Vẻ đẹp của một tâm hồn thơ hiến dâng

Tạ Hữu Yên có vóc người nhỏ bé, nhẹ cân - như chính ông tự trào. Nhưng ở ông, có một nội tâm mạnh mẽ và bền bỉ đến lạ kỳ. Ông viết miệt mài, lặng lẽ, không cầu danh lợi. Khi đã nghỉ hưu, tóc bạc, sức yếu, ông vẫn ngồi bên bàn làm việc mỗi sáng, cặm cụi sửa bản thảo, viết bài cho báo Tết, in thơ châm, thơ phổ nhạc.

Có lẽ vì từng đi nhiều, sống trong quân ngũ, gần gũi đồng đội, chứng kiến sự mất mát, hy sinh của những người “không tên tuổi”, nên thơ ông đầy nhân ái. Ông yêu đời, yêu người, và sống như một người “gieo hạt” - hạt thơ, hạt tình, hạt nghĩa - trong lòng bạn đọc. Ông khiêm nhường đến mức tự gọi mình là “cái bóng lặng thầm”, nhưng chính sự lặng thầm ấy mới làm nên sức ngân dài cho những vần thơ mà nhiều thế hệ người Việt biết đến và thuộc lòng.

Tại sao thơ ông sống lâu cùng năm tháng?

Không phải ngẫu nhiên mà thơ Tạ Hữu Yên có đến hơn 160 bài được phổ nhạc - một con số hiếm có, kể cả với các nhà thơ lớn. Nhiều bài nhạc sĩ giữ nguyên vẹn lời thơ - bởi chúng vốn đã là những khúc hát.

Có thể nói, thi pháp của ông là sự kết hợp giữa ngôn ngữ dân gian và cảm xúc thật - không lên gân, không kỹ xảo. Ông thấm nhuần nhạc tính của tiếng Việt, lại từng làm công tác phát thanh, nên lời thơ ông như đã mang sẵn giai điệu. Nhưng điều quan trọng hơn: thơ ông bắt nguồn từ một hiện thực được sống, được trải nghiệm, được thấm đẫm bằng tim.

Một câu thơ như “Anh về cùng mùa hoa” không phải là sáng tạo kiểu mẫu của kỹ thuật, mà là tiếng reo vui chân thành của người lính sau bao năm trở về. “Đôi dép Bác Hồ” không phải là biểu tượng sáo rỗng, mà là ánh nhìn đầy xúc động của một người đã từng gặp, từng gần gũi, từng yêu Bác bằng tất cả niềm tin và kính trọng.

Thơ ông vì thế mà đi vào lòng người như một nốt nhạc dân ca - giản dị, mộc mạc mà khó quên.

Người kể chuyện cách mạng bằng thơ

Với hơn 50 đầu sách, hàng ngàn bài thơ, bài báo, trường ca, kí sự, Tạ Hữu Yên là một trong những tác giả bền bỉ nhất của văn học cách mạng. Ông không viết để “để đời”, mà để sẻ chia và nâng đỡ tâm hồn cộng đồng - nhất là trong những năm tháng gian khó.

Từ “Ngọn súng biên phòng” đến “Thung lũng lửa và hoa”, từ “Nữ tướng Việt Nam” đến “Nhớ Bác” - mỗi tập thơ là một phần huyết mạch chảy trong dòng sông cách mạng, nơi ông từng lội qua bằng cả đời mình.

Một tâm hồn trong sáng, một người lính không buông bút

Càng về già, ông càng hóm hỉnh và tự trào. Trong tập thơ châm “Cử Tạ”, ông viết:

Khiêm tốn bao nhiêu cũng thiếu
Tự kiêu biết mấy cho vừa

Một bậc lão thành mà vẫn giữ được sự hồn hậu, nhẹ nhõm như thế - là hiếm. Ông không sống bằng hào quang quá khứ, mà bằng sự cần mẫn từng ngày. Với ông, làm thơ là để giữ cho tâm hồn mình thanh sạch và lan tỏa điều lành tới người khác.

Lời tiễn biệt, lời ngợi ca

Ông mất ngày 30/5/2013, sau một đời lính, một đời thơ, một đời Đảng viên tận tụy. Tác phẩm cuối cùng của ông - "Võ Nguyên Giáp: Vị Đại tướng văn võ song toàn" là một minh chứng trọn vẹn cho tình yêu nước nồng nàn không hề tắt của người cầm bút.

Năm 2017, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật - muộn mà xứng đáng. Nhưng với nhiều thế hệ người đọc, phần thưởng lớn nhất là khi họ hát lên những câu thơ của ông trong những mùa hoa, trên đường hành quân, hoặc trong những buổi sum họp quê nhà.

Lời kết

Nhà thơ Tạ Hữu Yên - người “thấp bé nhẹ cân” - đã để lại dấu ấn không chỉ bằng số lượng tác phẩm, mà bằng một tâm hồn thơ hiến dâng. Thơ ông là tiếng nói của nhân quần, là tiếng lòng của người lính, là lời ru của mẹ, là ngọn lửa thắp lên niềm tin.

Trong thời đại mà thơ đôi khi lạc mất người đọc, thì thơ ông vẫn neo giữ điều giản dị mà bền lâu nhất: lòng yêu nước, tình người, và đức tin vào cái đẹp.

Lê Thiên Ân

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.