Trương Nghệ Mưu được trao giải "Thành tựu trọn đời" tại Liên hoan phim Venice lần thứ 75:

Sức hút của một tên tuổi đầy hoài bão

Năm nay, Liên hoan phim Venice lần thứ 75 (2018) diễn ra từ ngày 29-8 đến ngày 8-9 chứng kiến sự tranh tài của hơn 20 bộ phim với những tên tuổi đình đám trong làng điện ảnh thế giới. Cũng tại Liên hoan phim Venice lần thứ 75 đã dành tôn vinh "Thành tựu trọn đời" cho đạo diễn Trương Nghệ Mưu - vị đạo diễn nổi tiếng bậc nhất Trung Quốc trong phạm vi quốc gia cũng như toàn thế giới.

Song cuộc đời Trương Nghệ Mưu cũng dính vào không ít xì-căng-đan và hay bị gắn liền với biệt danh đạo diễn "lắm tài nhiều tật" bậc nhất của Trung Quốc.

Trước khi được trao giải "Thành tựu trọn đời" tại Liên hoan phim Venice lần thứ 75 năm nay, đạo diễn Trương Nghệ Mưu là đạo diễn đã 2 lần đoạt giải "Sư tử Vàng" Phim hay nhất Liên hoan phim Venice, đó là "Thu Cúc đi kiện" (1992) và "Một người cũng không thể thiếu"  (1999).

Trước đó, bộ phim"Cúc Đậu" (1990) của Trương Nghệ Mưu là phim tiếng Hoa đầu tiên được đề cử giải Oscar Phim tiếng nước ngoài hay nhất; phim "Đèn lồng đỏ treo cao" của ông đã đoạt giải Sư tử Bạc tại Liên hoan phim Venice (1991), được đề cử Oscar năm 1992 và đoạt nhiều giải thưởng khác. Vào năm 2012, trong lễ khai mạc Liên hoan phim Quốc tế Mumbai lần thứ 14 tại Ấn Độ, đạo diễn Trương Nghệ Mưu cũng từng vinh dự được trao giải thưởng “Thành tựu trọn đời”.

Đạo diễn Trương Nghệ Mưu.
Đạo diễn Trương Nghệ Mưu.

Đây là sự công nhận, tôn vinh của ban tổ chức cho những cống hiến của Trương Nghệ Mưu đối với nền điện ảnh châu Á. Và năm 2013, tại Liên hoan phim Quốc tế Marrakech lần thứ 12 diễn ra ở Marốc, đạo diễn lừng danh Trương Nghệ Mưu của Trung Quốc tiếp tục vinh dự nhận Giải "Cống hiến xuất sắc". Ngoài ra, những giải thưởng "khủng" khác mà đạo diễn họ Trương từng đạt được như "giải thưởng điện ảnh Kim Kê", "giải thưởng Bách Hoa" và nhiều giải thưởng, đề cử khác đã khiến bộ sưu tập thành tích của đạo diễn Trương Nghệ Mưu trở nên dày đặc.

Nhưng phải nói rằng, với giải thưởng "Thành tựu trọn đời" mà Liên hoan phim Venice dành để tôn vinh Trương Nghệ Mưu năm nay, đã cho thấy sự ghi nhận của thế giới đối với tài năng, những cống hiến, đóng góp to lớn của Trương Nghệ Mưu đối với nền điện ảnh thế giới. Bởi lẽ, đây là một giải thưởng uy tín với lịch sử 75 năm mà bất cứ một đạo diễn nào cũng từng mơ ước được chạm tới.

Trương Nghệ Mưu được xem là "pháp sư" của điện ảnh Trung Hoa, là một bậc thầy về thể hiện tính nhân văn và tính thẩm mỹ trong điện ảnh và đến nay vẫn khó lòng tìm thấy một đạo diễn nào có thể sánh kịp. Tại Liên hoan phim Venice 2018 này, đạo diễn Trương Nghệ Mưu sẽ giới thiệu bộ phim "Ánh" - bộ phim võ thuật cổ trang mới nhất của ông - nhưng không tham gia tranh giải.

Đây cũng là bộ phim được Tạp chí Variety dự đoán là một trong 20 bộ phim được mong đợi nhất năm 2018 hồi tháng 12-2017. Với sự tham gia thủ vai chính của hai ngôi sao điện ảnh Trung Quốc là Đặng Siêu và Tôn Lệ, phim kể về cuộc đời một con người bị "cầm tù" suốt 8 năm và không chấp nhập số phận làm một "con rối" nên đã tìm  mọi cách vượt lên nghịch cảnh, tìm lại tự do cho mình.

Lấy bối cảnh là thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc, trailer giới thiệu phim với những cảnh quay đẹp lộng lẫy, những màn võ thuật hút mắt, đã khiến công chúng trong nước và thế giới tỏ ra hết sức phấn khích và mong đợi đến ngày siêu phẩm mới của đạo diễn họ Trương công chiếu.

Phải nói rằng, suốt 30 năm qua, kể từ bộ phim đầu tiên của Trương Nghệ Mưu được thế giới biết đến là "Cao lương đỏ", dường như tên tuổi của ông chưa bao giờ ngừng "hot". "Cao lương đỏ" ra đời năm 1988, vẫn luôn là bộ phim được nhắc đến bởi nó đánh dấu sự gắn kết của ông với tên tuổi của "người tình màn ảnh" và cả trong cuộc sống đời thực của Trương Nghệ Mưu: đó chính là Củng Lợi. Bộ phim này đã đoạt giải Gấu Vàng tại Liên hoan phim Berlin và trở thành phim Trung Quốc đầu tiên đoạt giải hàng đầu tại một liên hoan quốc tế danh tiếng.

Cùng với những siêu phẩm điện ảnh ra đời vào những năm 2000 như "Anh hùng" (2002), "Thập diện mai phục" (2004), "Hoàng Kim Giáp" (2006)... Trương Nghệ Mưu trở thành cái tên được truyền thông nhắc đến nhiều nhất bởi sự thành công của những bộ phim này về cả mặt hiệu ứng khán giả và doanh thu trên toàn thế giới.

Nhưng phải đến năm 2008, tên tuổi của Trương Nghệ Mưu một lần nữa trở nên vang dội khắp thế giới với cương vị là đạo diễn cho chương trình khai mạc và bế mạc của Olympic Bắc Kinh. Vượt qua nhiều đối thủ “nặng ký” để trở thành người “cầm trịch” đồng thời khẳng định tài năng xuất chúng đầy tính điện ảnh cho cho chương trình khai mạc và bế mạc của Olympic Bắc Kinh, Trương Nghệ Mưu đã thực sự khiến thế giới phải ngưỡng mộ "một Trung Quốc tinh hoa và lộng lẫy".

Chỉ với 50 phút đồng hồ, Trương Nghệ Mưu đã đem tất cả tinh hoa hội tụ, những nét đẹp như từ ngàn năm tìm về của Trung Quốc đến với bạn bè khắp năm châu.

Với sự thành công vang dội của Olympic Bắc Kinh, tên tuổi đạo diễn họ Trương thực sự trở nên sáng chói, khiến bạn bè thế giới ngưỡng mộ tài năng của ông, trầm trồ về lịch sử - văn hoá - truyền thống - kinh tế Trung Hoa. Và Trương Nghệ Mưu là cái tên mà bất cứ một người Trung Quốc nào, dù đang sinh sống ở đâu trên thế giới đều cảm thấy hãnh diện, tự hào. Bởi nhờ có Trương Nghệ Mưu, công chúng thế giới đã thấy được tầm vóc, chiều sâu văn hóa tư tưởng và sức mạnh con người của Trung Quốc.

Phải thừa nhận rằng, đất nước - con người Trung Quốc đã thực sự "ghi điểm" trong mắt công chúng quốc tế. Và dường như tại khai mạc và bế mạc của Olympic Bắc Kinh, đạo diễn Trương Nghệ Mưu đã thể hiện được một phần lớn hoài bão của cuộc đời ông, đó là đưa Trung Quốc đến gần với thế giới. Trong công việc chính là làm đạo diễn điện ảnh của mình, Trương Nghệ Mưu cũng luôn mang trong mình hoài bão và khát vọng lớn, đó chính là làm ra những tác phẩm chinh phục quốc tế mang đậm bản sắc độc đáo của Trung Quốc.

Poster phim "Ánh" (Shadow) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu được chiếu giới thiệu tại Liên hoan phim Venice 2018.
Poster phim "Ánh" (Shadow) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu được chiếu giới thiệu tại Liên hoan phim Venice 2018.

Những bộ phim đầu tiên của Trương Nghệ Mưu ra đời vốn chưa được đánh giá cao tại quê nhà Trung Quốc - dù đã đạt nhiều giải thưởng lớn quốc tế - vì bị chê là "quá Tây", thậm chí là "làm phim cho người da trắng". Đạo diễn Trương Nghệ Mưu luôn nói rằng, ông muốn làm ra những bộ phim "dành cho tất cả mọi người".

Hơn 20 năm sau, Trương Nghệ Mưu đã trở thành một nhà làm phim Trung Quốc hiếm hoi có thể làm những bộ phim lôi cuốn được khán giả phương Tây trong khi vẫn mang đậm văn hóa Trung Quốc và dường như hoàn toàn chinh phục khán giả của đất nước đông dân cư nhất hành tinh. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn hồi năm 2016 khi phim "Trường thành" ra mắt, Trương Nghệ Mưu nói: "Để xuất khẩu văn hóa Trung Quốc, bạn phải nắm bắt được thị hiếu của khán giả quốc tế.

Cụ thể, phim của bạn vừa phải chau chuốt nhưng cũng phải mang tính giải trí, đừng quá hàn lâm, nếu không sẽ không hiệu quả và không được khán giả quốc tế đón nhận. Nếu phim không thành công thì sứ mệnh xuất khẩu văn hóa của bạn cũng sẽ thất bại".

Lừng danh khắp thế giới nhưng cuộc đời - sự nghiệp của Trương Nghệ Mưu cũng tốn rất nhiều giấy mực của báo giới Trung Quốc, nhất là khi dính vào những vụ tai tiếng cũng vào hàng "có một không hai" của Trung Quốc. Năm 1978, trước khi theo học tại Học viện Điện ảnh Bắc Kinh, Trương Nghệ Mưu đã kết hôn với Tiêu Hoa - người bạn thời niên thiếu và cũng là mối tình đầu của ông. Tiêu Hoa cũng chính là người khích lệ Trương Nghệ Mưu trở thành đạo diễn nhưng bà chắc cũng không thể ngờ công việc đạo diễn đã "lấy đi" người chồng mà bà rất mực thương yêu đồng hành khi Trương Nghệ Mưu phát hiện ra Củng Lợi.

Mời Củng Lợi tham gia phim đầu tay "Cao lương đỏ" năm 1988 và gần như từ sau đó hai người này đã trở thành "một cặp" trong nhiều năm, trước khi cuộc hôn nhân tan vỡ. Sau nhiều năm gắn bó nhưng không "về chung một nhà" dù Củng Lợi rất mong ngóng ngày hợp hôn. Năm 1995, hai ngôi sao tuyên bố "đường ai nấy đi", nhưng Củng Lợi vẫn kết hợp với Trương Nghệ Mưu ở những dự án điện ảnh nổi tiếng của ông sau này.

Cách đây 5 năm, Trương Nghệ Mưu lại gây nên một cuộc "chấn động toàn Trung Quốc" khi bị lộ thông tin đã có vợ kém 31 tuổi là Mai Đình và 3 người con. Điều này vi phạm "chính sách 1 con" của Trung Quốc, khiến đạo diễn lừng danh bị dư luận trong nước phản ứng dữ dội. Ông đã phải nộp phạt hơn 7,5 triệu nhân dân tệ (tương đương 24 tỉ đồng). Và lần này, khi được trao giải "Thành tựu trọn đời" tại Liên hoan phim Venice và ra mắt phim "Ánh" (Shadow), tên tuổi của Trương Nghệ Mưu lại một lần nữa nổi như cồn.

Nguyệt Hà

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.