Sự thật về việc vua Thành Thái lên Kim Long chọn quý phi

Hơn 100 năm đã qua, nhưng giai thoại về vua Thành Thái cải trang thành một người dân bách tính liều mình lên Kim Long (nay là phường Kim Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế) vào một ngày Xuân để tìm chọn quý phi vẫn được người dân xứ Huế nhắc đến. Nhưng ngày nay ít ai biết được rõ sự thật trong đó...

Nét đẹp của cô gái Kim Long

Bắt đầu từ năm Bính Tý 1636, trải qua các đời chúa Nguyễn Phúc Lan và chúa Nguyễn Phúc Tần, Kim Long trở thành thủ phủ của chúa Nguyễn và là nơi phồn hoa Đô hội bậc nhất Đàng Trong. 51 năm sau (Đinh Mão 1687), chúa Nguyễn Phúc Thái đưa thủ phủ về Phú Xuân (nơi có Kinh thành Huế ngày nay) để tránh lũ lụt, Kim Long trở thành nơi những người hoàng tộc, các gia đình quan lại lập phủ thờ, nhà vườn. Chỉ tính riêng ở khu vực Phú Mộng thuộc phường Kim Long còn gần như nguyên vẹn 60 ngôi nhà rường cổ.

Lớn lên trong các gia đình danh gia vọng tộc, biết làm các nghề thủ công truyền thống (như dệt lụa), uống được thứ nước nguồn trong vắt đoạn giữa sông Hương, lại ngày ngày nép mình dưới những tán cây trái xum xuê bên trong những khu nhà vườn im mát, người con gái Kim Long trắng trẻo, nuột nà đến xiêu lòng bao gã trai si tình.

Chân dung vua Thành Thái. Nguồn ảnh: internet.
Chân dung vua Thành Thái. Nguồn ảnh: internet.

Người con gái Kim Long xưa có dáng người mảnh khảnh, mái tóc thề ôm trọn bờ vai, đôi mắt đen to tròn, ánh nhìn day dứt, lại phảng phất nét lạnh lùng. Ngày xưa, mái tóc thề là biểu hiện cho sự trinh khôi của những cô gái xứ Huế. Khi chưa có chồng, tóc con gái Huế thông thường là buông xoã tự do. Tóc phủ xuống bờ vai, xuống lưng người và nhiều khi hơn thế, có những người còn rũ xuống gót chân. Khi đã có người thương, mái tóc thề càng nói lên sự chung thủy của cô gái Huế đối với chàng trai, nghĩa là luôn “một lòng một dạ”, không có “ý chi” với ai khác nữa.

Giọng nói của những cô gái Kim Long lại nhỏ nhẹ, dễ thương, điển hình cho âm giọng trọng tình cảm của người Huế. Một nhà thơ đã viết một cách hình tượng “Em ơi giọng Huế có chi. Mà trong hoa nắng thầm thì cơn mưa”. Thậm chí, chỉ một tiếng “Dạ thưa” ngọt lịm thôi cũng đủ để mê say lòng người.

Bởi thế, không chỉ những công tử hào hoa muốn chiêm ngưỡng dung nhan mỹ lệ mà đến cả những bậc quân vương xứ Huế cũng không tiếc thời giờ để đến Kim Long tìm cho bằng được người trong mộng. Đã hơn 100 năm nhưng giai thoại về vua Thành Thái cải trang thành một người dân bách tính liều mình lên Kim Long vào một ngày Xuân để tìm chọn quý phi vẫn được người dân xứ Huế nhắc đến.

Người đời kể lại rằng, vào một ngày Xuân, vua Thành Thái vi hành lên Kim Long kiếm tìm khắp nơi vẫn chẳng gặp ai vừa ý, vua đành thuê một chiếc đò ra về. Đò vừa ghé vào, mới bước lên, nhà vua trông thấy cô lái đò đôi má ửng hồng rất có duyên. Lòng xao xuyến, mê mẩn, vua liền hỏi: “Nì, o tê! O có muốn lấy vua không?”.

Cô lái đò nhìn ông khách lạ đời thỏ thẻ nói: “Đừng có bậy bạ mà họ lấy đầu chừ!”. Lại càng thấy đáng yêu hơn, vua dấn tới: “Tui nói thiệt đó, o có muốn lấy vua thì tui làm mối cho!”. Câu chuyện còn dài nữa nhưng kết cục thì ai cũng rõ, cô gái lái đò Kim Long kia đã “vô Nội”, làm quý phi cho ông vua yêu nước chống Pháp.

Thực tế, các cô gái Kim Long được làm vợ vua khá nhiều. Chẳng hạn, Vĩnh Quốc Công Nguyễn Hữu Độ có ba cô con gái và cô nào cũng rất xinh đẹp, một gả cho vua Đồng Khánh, một gả cho em trai vua Hàm Nghi, còn lại người con gái út Nguyễn Hữu Thị Nga rất mỹ miều nên vua Thành Thái hay đi xe song mã đến nhà chơi. Sau này, bà Nga cũng được vua Thành Thái đưa vào cung, phong làm Huyền phi, sinh hạ được hai người con.

Bà Nguyễn Hữu Thị Nga – Huyền phi của vua Thành Thái. Nguồn ảnh: internet.
Bà Nguyễn Hữu Thị Nga – Huyền phi của vua Thành Thái. Nguồn ảnh: internet.

Hiện nay, Kim Long vẫn còn lưu dấu tích tên xóm Cồn Súng, Thượng Dinh, Trung Dinh, Hạ Dinh hay Nghinh Xuân, nơi ở của cung tần mỹ nữ một thời. Kim Long cũng là nơi tập trung hầu hết các phủ đệ của họ hàng bên vợ các vua nhà Nguyễn như phủ Đức Quốc Công Từ, phủ Vĩnh Quốc Công…

Những nữ binh Kim Long yêu nước

Nhưng sự thật là như thế nào? Đó là vua Thành Thái đã lập ra một đội nữ binh đặc biệt, đa số là những o con gái Kim Long mỹ miều nhằm che mắt Pháp. Vua Thành Thái đã thành công khi đánh lạc hướng bọn giặc cướp nước rằng mình cũng là một vị vua mê sắc dục tột cùng, không lo lắng chi đến triều chính, để mưu đại sự cứu nước cứu dân.

Việc tuyển mộ và huấn luyện được tổ chức hết sức bí mật. Vua Thành Thái cho lính cận vệ thân tín đến tiếp xúc với những cô gái Kim Long và gia đình các cô. Nếu được chấp thuận, vua cho “dàn cảnh” bắt cóc, bằng cách hẹn ngày giờ và địa điểm gặp gỡ, rồi lính cận vệ, hoặc chính nhà vua đem xe song mã đến đón họ và đưa vào cung cấm. Để bảo mật, các cô gái bị “bắt cóc” thường được đưa vào Tử Cấm Thành bằng cửa Hữu của thành Nội, gần làng Kim Long, vì con đường chạy dọc theo bên ngoài Hoàng thành dẫn đến cửa Hữu rất vắng vẻ vào ban đêm, hai bên đường lại không có nhà cửa của dân chúng.

Bởi thế dân gian lan truyền câu ca: “Kim Long có gái mỹ miều. Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi” cũng nhằm nói về điều phi thường này của vua Thành Thái, một vị vua có lòng yêu nước vô hạn. Để tránh những con mắt cú vọ của thực dân Pháp nên vua Thành Thái phải tỏ ra là một vị vua đam mê gái đẹp.

Một số tài liệu ghi rằng vua Thành Thái đã chiêu nạp được 4 đội, mỗi đội 50 người, đội trước huấn luyện xong thì trở về gia đình và nạp đội mới, khi có thời cơ sẽ cùng nổi dậy chống Pháp. Nhưng sự việc cuối cùng bị lộ khi tên Thượng thư Bộ Lại và “Cơ mật viện” báo cho tên Khâm sứ Pháp Levécque.

Hai người vợ của vua Thành Thái. Ảnh chụp năm 1907 ở Huế. Nguồn ảnh: internet.
Hai người vợ của vua Thành Thái. Ảnh chụp năm 1907 ở Huế. Nguồn ảnh: internet.

Sau đó, tên Khâm sứ Pháp Levécque nói thẳng là đã biết vua Thành Thái có ý đồ chống Pháp nên không để vua ở ngôi được. Hắn nói vua Thành Thái muốn tại vị thì vua phải ký vào một tờ giấy xin lỗi, tuyên bố với quốc dân là có âm mưu chống lại nước Pháp, nay phải “thành thực hồi tâm”. Nhưng vua Thành Thái đã ném tờ tuyên cáo thảo sẵn ấy xuống đất.

Ngày 3-9-1907, “triều thần” theo lệnh của Pháp vào điện Càn Thành dâng vua Thành Thái “dự thảo” chiếu thoái vị, có chữ ký của các đại thần, với nội dung vua Thành Thái vì lý do sức khoẻ không bảo đảm xin tự nguyện thoái vị. Xem xong bản “dự thảo”, vua Thành Thái chỉ cười, ghi ngay hai chữ “phê chuẩn”.

Ngày 12-9-1907, vua Thành Thái bị thực dân Pháp đưa đi quản thúc ở Vũng Tàu. Đến năm 1916 vua bị đày ra đảo Réunion cùng với con trai của mình là vua Duy Tân, cũng là một vị vua yêu nước chống Pháp.

Huế, ngày 4-1-2019

Nguyễn Văn Toàn

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.