Sinh nở, một tự sự đa dạng về nữ giới

Lật lại một số ghi chép sử liệu hoặc văn chương Việt Nam trung đại, có thể thấy câu chuyện sinh con đẻ cái dường như xuất hiện theo nhiều kịch bản khá bất ngờ. Tuy thế, một điểm xuyên suốt và trùng lặp đây đó là hình ảnh người phụ nữ, chủ thể chính của câu chuyện đó, lại khá mờ nhạt.

Chính xác hơn, câu chuyện sinh nở tưởng chừng bất khả xâm phạm của riêng phụ nữ đã phải chia sẻ với nhiều tác nhân khác nhau, từ bối cảnh chính trị -xã hội, đạo đức, tôn giáo, văn hóa hay điều kiện y tế.

Ẩn ý từ hoang đường

“Lĩnh Nam chích quái”, một tuyển văn xuôi truyền thuyết và cổ tích, được cho là xuất hiện từ đời Lý, Trần và được hoàn thiện vào cuối thế kỉ XV, chứa đựng nhiều tự sự đáng chú ý về chuyện sinh nở. Trong đó, như một phần nối dài của các truyện kể dân gian lan truyền nhiều đời, mô-tip thụ thai, sinh nở thần kì đã được các soạn giả Vũ Quỳnh và Kiều Phú, vốn dĩ là những nhà Nho không hẳn quá tin vào hoang đường, chép lại một cách rõ ràng.

Câu chuyện “vang dội” đáng kể đầu tiên là “Truyện họ Hồng Bàng” kể việc “Long Quân lấy Âu Cơ rồi đẻ ra một bọc, cho là điềm bất thường, vứt ra cánh đồng; qua sáu bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai, mới đem về nhà nuôi. Không phải bú mớm, các con tự lớn lên, trông đẹp đẽ kì dị, người nào cũng trí dũng song toàn”.

Ít sự thật, không cứ liệu, vắng mặt hoàn toàn quá trình mang nặng đẻ đau cũng như công sinh thành đức dưỡng dục, nhưng đoạn văn tưởng như huyễn tưởng này rồi sẽ được trưng dụng cho một tự sự lớn lao và quan trọng hơn, là về cỗi gốc, về khởi sinh nước Việt. Chuyện sinh nở không phải để biểu đạt một “việc riêng” của người nữ, mà đã được chuyển đổi hóa, nâng cấp thành việc lớn của giống nòi, của ý niệm quốc gia thống nhất ít nhất về mặt huyết thống.

Sử gia Ngô Sĩ Liên về sau, tuy có hơi băn khoăn độ xác tín, nhưng vẫn không ngần ngại xếp chuyện cha Rồng mẹ Tiên vào “Ngoại kỷ” và thành tâm bình luận “Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?”. Đây chính là thông điệp vào hàng bền vững nhất trong tâm thức dân chúng bất chấp vô số biến thiên dâu bể xảy ra.

Và kéo dài cho đến hôm nay dẫu nó, vô tình, làm mờ đi những nhọc nhằn, gian nan có lẽ không ít trong buổi đầu gây dựng vùng đất mới.

Ngô Sĩ Liên cũng tinh ý, hẳn vì theo ý thức hệ nam quyền, nên mới cho 50 con trai theo cha lần lượt nối ngôi mang hiệu Hùng vương, khác với phiên bản dân gian là theo mẹ. Mẹ/Mẫu, trong trường hợp này, dẫu sinh hạ thánh hiền, nhưng không có cơ may được xiển dương vì thời đại đã đậm đà Nho giáo đề cao phụ hệ.

Đứng về nhãn quan tư tưởng nào, quả thật, sẽ chi phối rất lớn đến tự sự sinh nở. Vẫn trong “Lĩnh Nam chích quái”, truyện Man Nương còn thêm phần phức tạp vì liên quan đến Phật giáo thời đầu du nhập vào đất đã có Thái thú Sĩ Nhiếp, “Nam giao học tổ”, đóng đô. Việc nàng Man Nương “có tật nói lắp, không thể cùng chúng sinh tụng kinh” có thai với sư Già La được biên lại với mức độ gãy gọn nhất: “Man nương ngủ ở giữa cửa. Sư Già La bước qua mình Man Nương. Man Nương tự nhiên động thai. Có thai được ba bốn tháng, Man Nương xấu hổ bỏ về. Sư Già La cũng thẹn mà bỏ đi. Man Nương về tới một ngôi chùa ở ngã ba sông thì ở lại đó. Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, tìm sư Già La mà trả”.

Gãy gọn nhưng không hề giản đơn vì từ Man Nương, lai lịch Phật giáo bản địa mà hiện thân là Tứ Pháp sẽ còn thách thức người đời lí giải nhiều chiều. Nhưng chi tiết Man Nương đem con trả thiền sư, thiển nghĩ, làm người hiện đại hôm nay không khỏi giật mình vì, xét cho cùng, trưởng thành trong môi trường Phật giáo (bình dân) có thể đem lại nhiều giác ngộ lẫn phẩm hạnh hơn chăng.

Dẫu sao, nàng Man Nương, cái tên không che giấu vẻ vô minh ấy, đã được nhà Nho chấp nhận nghĩa lí cao đẹp của việc sinh nở kì lạ để trở thành Phật mẫu, một truyền thống tín ngưỡng lâu đời của người Việt. Và Tứ Pháp, thoát thai từ Man Nương, nếu loại bớt yếu tố hoang đường, sẽ phản ánh khá rõ tập quán chống hạn, chống lụt trường kì gian nan của người dân vùng châu thổ Bắc bộ.   

Cũng có nhà Nho lấy chuyện sinh nở để góp phần răn dạy những điều chướng tai gai mắt nơi cửa Phật. “Chuyện nghiệp oan của Đào thị” trong “Truyền kì mạn lục”, một thành tựu lớn của văn xuôi chữ Hán trung đại, kể về nàng Hàn Than tuy đã vào chùa tu tịnh nhưng dâm ô, “chẳng khác nào con bướm gặp xuân” với sư bác Vô Kỷ. Kết cục cuộc mây mưa thân xác là Hàn Than “có thai rồi ốm”, sư Vô Kỷ không biết đường chạy chữa, “khiến nàng quằn quại chết ở trên giường cữ”.

Tác giả Nguyễn Dữ còn thêm trường đoạn biến hóa kì quái của Hàn Than, Vô Kỷ cốt để đả phá gay gắt thói dị đoan nảy sinh từ Phật giáo và những kẻ khoác áo tu “gian dâm, buông thói tà dục”. Thái độ phê phán theo nhãn quan Nho gia như thế, vào lúc đạo đức xã hội suy vi, cho thấy tâm trạng phẫn giận của tầng lớp trí thức thế kỉ XVI hơn là sự cảm thông, thương xót người nữ vượt cạn bất thành.

Dẫu vậy, để cho danh kĩ “lẳng lơ” Hàn Than chết trên giường cữ, văn chương giáo huấn đã bắt đầu nới rộng quan sát về phía con người nạn nhân, đặc biệt là nạn nhân nữ dù họ xuất thân thế nào, điều trở thành tâm điểm nổi bật trong đỉnh cao chủ nghĩa nhân đạo ở thế kỉ XVIII sau đó.

Phía sau quyền bính

Mùa xuân năm Đinh Dậu (1237), quá sốt sắng vì Chiêu Thánh Hoàng hậu vẫn chưa sinh con cho Thái Tông, sợ cơ nghiệp gia tộc vừa mất công sức gây dựng không có người nối dõi, Thái sư Trần Thủ Độ đã quyết phế bỏ Chiêu Thánh, giáng xuống làm công chúa, rồi đem Thuận Thiên, chị gái Chiêu Thánh, bấy giờ mang thai được ba tháng với chồng là Trần Liễu, vào làm hoàng hậu.

Sự kiện khởi đầu cho tục hôn nhân bất thường của nhà Trần khiến các sử gia đời sau không khỏi phê phán rằng đã làm loạn nhân luân ấy, có thể nói, đã đẩy số phận hai người nữ, hai chị em, vào một vòng quay quyền bính phức tạp, nơi họ gần như chỉ có nhiệm vụ sinh con cho kẻ giữ ngôi báu, chứ không phải cho niềm hạnh phúc mẫu tử thông thường.

Thật ra, trước khi rơi vào bi kịch, Chiêu Thánh đã hạ sinh cho Thái Tông một con trai là Trần Trịnh (1233) nhưng không may thái tử chết non. Lúc đó, Chiêu Thánh lẫn Thái Tông đều mới mười lăm tuổi, có lẽ chưa có thể trạng lí tưởng cho việc sinh nở. Khi Thuận Thiên lấy Thái Tông, bà đã 21 tuổi, và sau khi sinh Trần Quốc Khang (1237), thì kịp sinh thái tử Trần Hoảng (1240) coi như “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” đẻ người kế nghiệp Thái Tông.

Thái sư Thủ Độ chắc hẳn thở phào nhẹ nhõm và Thái Tông thì bớt áy náy nên mới cho phép Chiêu Thánh công chúa tái giá với bề tôi Lê Phụ Trần vào năm 1258. Ở tuổi 40, Chiêu Thánh sinh được một trai (Lê Tông), một gái (Lê Ngọc Khuê), tuy không còn tước vị cao ngất Trần triều nhưng phần nào có được cảm giác nương tựa vợ chồng và không bị ai cất đặt thêm lần nữa.

Hậu thế thường chê trách Thái Tông (“Trách người quân tử bạc tình/Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao”) mà tỏ ra thương cảm Chiêu Thánh vì nhìn chung, người phụ nữ bước ra từ buổi hoàng hôn nhà Lý này đã được thời đại sử dụng như một phương tiện thoán đoạt quyền bính thay vì là một cá nhân được lựa chọn cuộc đời mình.

Dĩ nhiên, dưới nhãn quan Nho giáo và văn hóa nam quyền thì phụ nữ sinh con không quan trọng bằng sinh con trai hay gái, và đặc biệt là sinh con cho ai. “Cho ai” trước khi cho mình, điều trớ trêu và phần nhiều cay đắng ấy, đã thành sử sự chạy dọc các triều đại phong kiến.

Khi câu chuyện sinh đẻ trong chốn hậu cung nhuốm màu sắc mưu chước, liên minh quỷ kế, thì thật ra ngay cả đến sinh được thái tử cũng chưa hẳn đã may mắn. Nhưng trong thâm tâm, mong muốn được đổi đời hay cao hơn là được đứng trên vạn người vẫn làm cho chị em nơi thôn cùng xóm vắng nung nấu được là Ỷ Lan hay Đặng Thị Huệ.

“Một đêm tựa mạn thuyền rồng/Còn hơn chín kiếp ngồi trong thuyền chài”, đúc kết thẳng thừng này, dẫn đến thực tế rằng có hằng trăm phi tần nỗ lực sinh con cho một ông vua nào đó nhưng để phục vụ cho vương triều tồn tại.

Các ông vua đầu nhà Nguyễn chẳng hạn, đều có khá nhiều con: Gia Long có 13 con trai, 18 con gái; Minh Mệnh có 78 con trai, 64 con gái; Thiệu Trị có 29 con trai, 35 con gái. Nhưng danh phận mẹ của những người con này không phải lúc nào cũng được ghi chép rõ ràng. Gia Long tiêu diệt Tây Sơn và lấy luôn Lê Ngọc Bình làm phi.

Biểu tượng sắc đẹp và quyền lực của triều đại cũ đi vào hoàng cung mới, không rõ tình cảm với “kẻ thù” thế nào nhưng phải đẻ “liền tù tì” bốn đứa con, khiến sức khỏe giảm sút và mất khi mới 25 tuổi (1810). Gia Long không ngại mang tiếng cướp vợ của “giặc” (Tây Sơn) vì thiên hạ đã về tay thì người phụ nữ nào mà chẳng là của ông! Đẻ con cho Gia Long hoàng đế, Ngọc Bình khi chết dù sao cũng được ban thụy Cung Thận Đức phi, thêm một tiếng thơm cho số mệnh hai lần làm vợ vua ngắn ngủi.

Đấy cũng là thời điểm mà văn chương liên tục đối diện với tình thế éo le của người nữ. Họ có thể là cung nữ, kĩ nữ, ca nữ, thậm chí là đĩ điếm. Nhưng oái ăm và khó khăn thay, văn nhân và sử gia đôi khi lại nhìn họ như những liệt nữ hoặc những người nữ không có trải nghiệm sinh nở...

(Còn nữa)

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?