Phòng tuyến Maginot kiệt tác vô nghĩa

Không phải ngẫu nhiên mà quân sử thế giới đánh giá cao học thuyết Chiến tranh chớp nhoáng (Blitzkrieg) – mà đỉnh cao là cuộc tấn công thần tốc bức hàng nước Pháp - của quân đội Đức Quốc xã trong Đại chiến thế giới lần thứ hai đến thế. 

Đầu tiên và cuối cùng, thiết kế hoàn hảo của phòng tuyến Maginot chính là điều quyết định tạo nên cho những bước quân hành sấm sét ấy dáng vóc của một kỳ công. Và bởi vậy, trọng tâm bài này sẽ không phải là những cái tên lẫy lừng của quân đội Quốc xã như Von Manstein, Heinz Guderian hay Erwin Rommel…

Đỉnh cao của “chiến tranh chiến hào”

Nhân vật chính ở đây là Andre Maginot (17/2/1877 – 7/1/1932), Bộ trưởng Chiến tranh của nước Pháp từ năm 1928 đến năm 1931, cha đẻ của phòng tuyến phi thường ấy - được đặt tên theo chính ông.

Andre Maginot sinh ở Paris, nhưng lớn lên ở vùng Alsace – Lorraine, miền đất mà sau này phòng tuyến Maginot được xây dựng, cũng là vùng lãnh thổ nước Pháp từng bị mất cho người Đức một thời gian dài sau khi Hoàng đế Napoleon III bị đánh bại trong chiến tranh Pháp – Phổ (1870), điều để lại những vết hằn đầy tâm trạng cho cả một thế hệ, ngay cả trong thứ văn chương dịu dàng và tao nhã của Alphonse Daudet (truyện ngắn Bài học cuối cùng).

Hơn thế, Andre Maginot còn là một cựu chiến binh thời Đại chiến thế giới lần thứ nhất, nơi “chiến tranh chiến hào” thể hiện sự thống trị của mình. Ông đã chứng kiến cảnh hàng tập đoàn quân kìm giữ lẫn nhau giữa các chiến tuyến được định hình bằng chiến hào và công sự, để rồi mỗi cuộc xung phong đều trở thành một lần tự sát tập thể. 

Ông cảm nhận được rằng điều đó tác động tồi tệ như thế nào đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ phía buộc phải tấn công. Và ông tin tưởng rằng, những phòng tuyến như thế sẽ là cách hữu hiệu nhất để bảo vệ miền biên cương nước Pháp nơi ông lớn lên, trước tham vọng phục hận của những người Đức láng giềng.

Andre Maginot.
Andre Maginot.

Niềm tin vào những bức tường thành là một truyền thống lâu đời trong lịch sử bất cứ nền văn minh lớn nào trên thế giới, và Pháp cũng không ngoại lệ.

Trước Andre Maginot, niềm tin ấy được khẳng định bởi Sebastien Le Prestre - hầu tước xứ Vauban, kiến trúc sư quân sự, Thống chế dưới quyền vua Louis XIV, người đem đến cho thế giới khái niệm “thành lũy kiểu Vauban” với những góc khúc khuỷu hỗ trợ cho việc bắn chéo cánh sẻ từ mọi phía của quân phòng ngự.

Sau đó, đến Đại chiến thế giới lần thứ nhất, tư tưởng cố hữu ấy tiếp tục được củng cố nhờ Thống chế Joseph Joffre. Joffre quan niệm, một quan niệm được quán triệt tới toàn quân: Chiến tranh sẽ là cuộc đọ sức giữa các đoàn quân xông lên từ chiến hào hay từ chiến lũy.

Không phải ông không biết rằng công sự nào cũng có thể bị xuyên thủng, nhưng triết lý chính của ông là: Một công sự lớn có thể cầm chân lực lượng tấn công đủ lâu, làm suy yếu và tiêu hao sinh lực của nó, khiến nó không thể tấn công nước Pháp trực diện. 

Và rồi, nước Pháp sẽ đủ khả năng tung ra những đợt phản công quyết định, hoặc có thể ép kẻ địch (ở đây là quân Đức) phải chà đạp lên tính trung lập của Bỉ và qua đó kéo Anh (cam kết bảo vệ sự trung lập ấy) vào cuộc chiến. Hoặc ít nhất, chiến sự sẽ diễn ra ngoài lãnh thổ nước Pháp.

Triết lý này cũng được Thống chế Petain, người sau này đứng đầu chính phủ Vichy bù nhìn, người hùng ở Đệ nhất thế chiến và kẻ tội đồ trong Đệ nhị thế chiến, chia sẻ nồng nhiệt.

Trên nền tảng đó, trong một bài diễn văn đọc ngày 10-12-1929, Andre Maginot khẳng định ông chống lại “bất cứ mơ mộng nào xây một thứ Trường Thành cho nước Pháp”, và nhấn mạnh rằng đối với ông, các công sự sẽ là “những phương tiện mạnh mẽ và uyển chuyển để tổ chức phòng ngự, dựa trên nguyên tắc tận dụng địa hình nhằm lập nên một chiến tuyến trải dài liên tục ở khắp mọi nơi”.

Nghĩa là, với Maginot, những chiến lũy chỉ là công cụ phòng ngự, để sau đó phản công. Nhưng, éo le thay, sau khi hoàn tất, Phòng tuyến Maginot lại tạo nên những ảo tưởng về sự bất khả xâm phạm.

Không phải là sai lầm, nhưng vẫn là thất bại.

Phòng tuyến Maginot là gì?

Đó là một chuỗi dài hệ thống phòng ngự nối nhau bằng những con đường, những hầm hào, thậm chí cả những tuyến đường sắt tiếp vận. Nó là hàng loạt những khu liên hợp trên bề rộng tới 15 dặm, từ phía đông (đường biên giới Pháp – Đức) vào sâu trong lãnh thổ nội địa phía tây.

Nó là sự sắp xếp đan xen của các cứ điểm, các trạm gác biên phòng, các công sự, các kho vũ khí và kho lương thực - hậu cần, các trạm quan sát tiền tiêu. Ngay phía sau tuyến phòng ngự đầu tiên là những pháo đài và những phức hợp boong-ke có thể chứa tới hàng nghìn binh lính.

Khi mùi thuốc súng bắt đầu thổi tới nước Pháp từ những cuộc sáp nhập Áo, xé nát Tiệp Khắc và xâm chiếm Ba Lan của quân đội Đức Quốc xã, tính chất “không thể vượt qua” của Phòng tuyến Maginot càng được truyền thông Pháp thổi phồng. 

Thực ra, điều này không sai. Các danh tướng dưới trướng Adolf Hitler không bao giờ tính chuyện xua quân của mình đâm đầu trực diện vào bức trường thành ấy, kiệt tác công sự phòng ngự ấy. Họ quá hiểu rằng điều đó là không thể.

Một góc Phòng tuyến Maginot trên thực tế
Một góc Phòng tuyến Maginot trên thực tế

Song, cách Phòng tuyến Maginot trở thành một thứ “bùa hộ mệnh” cho cả nước Pháp thì bộc lộ một khía cạnh khác: Sự sa sút của tinh thần dân tộc. 

Người Pháp không muốn tin vào nguy cơ chiến tranh, họ chọn tin vào lời hứa không gây chiến của ông bạn láng giềng Đức. Từ đó, những ý tưởng mang tính đột phá bị phớt lờ - điều rất đáng ngạc nhiên với một dân tộc giàu truyền thống sáng tạo như dân tộc Pháp.

Không phải ai cũng bị cuốn theo khuynh hướng ấy. Vẫn có những chính khách như Paul Reynaud và Charles De Gaulle nhận ra rằng chiến tranh đã và đang thay đổi chóng mặt, rằng sức cơ động của xe tăng hay máy bay sẽ chiếm ưu thế trước các công sự cố định, rằng nên đầu tư kinh phí quốc phòng vào không quân và thiết giáp…

Nhưng, họ chỉ là thiểu số. Mà thậm chí, đến cả ý niệm ban đầu của chính Andre Maginot: Phòng ngự để phản công cũng bị biến tướng thành một thứ tâm lý phòng ngự thụ động, bao trùm từ kiến trúc thượng tầng. 

Theo cuốn “Hitler và các danh tướng Đức Quốc xã” của Raymond Cartier, cũng như theo cuốn “Lịch sử Đức Quốc xã - Sự trỗi dậy và suy tàn của Đế chế thứ ba” (William L.Shirer), ngay từ khi nước Đức tái vũ trang và đưa quân vào Hành lang sông Rhine, chỉ cần Anh và Pháp có những động thái quyết liệt, họ đã có thể bẻ ngoặt dòng chảy lịch sử theo một hướng khác.

Von Manstein, Guderian hay Rommel không chọn cách “đâm đầu vào đá”. Họ xua thiết giáp Đức – với ưu thế tuyệt đối về thiết kế và kỹ thuật thời ấy – băng qua khu vực rừng Ardenes, nơi không hiện hữu các công sự phòng ngự (nhưng cũng là nơi giới quan chức Pháp tin tưởng rằng địa hình sẽ giúp họ chặn bước kẻ địch). 

Đạp lên vị thế trung lập của nước Bỉ, coi thường sự nhu nhược của cả nước Pháp lẫn nước Anh (dù sự nhu nhược ấy có thể được diễn giải là phương thức hướng mũi nhọn phát-xít về phía đông, để “xua hổ nuốt sói”, tấn công Liên Xô), quân đội Quốc xã chỉ tập trung toàn bộ sinh lực đánh nát điểm phòng ngự ở biên giới Pháp – Bỉ - pháo đài Ebel – Emaen. 

Lính dù, pháo kích, xe tăng và súng phun lửa dễ dàng thổi bay sức kháng cự của binh sĩ Bỉ. Cửa đột phá vào đất Pháp bật mở, thênh thang như chỗ không người. Sau đó là trận Dunkirk, sau đó nữa là việc Phòng tuyến Maginot bị tấn công từ phía sau lưng. 

Chủ lực quân Pháp bị chia cắt, bao vây, cô lập và hủy diệt. Sau đó là Paris thất thủ, và sau đó là sự đầu hàng nhục nhã của nước Pháp, chỉ trong vòng một tháng rưỡi. 

Nói như nhà nghiên cứu Alan Axerod, tác giả cuốn “Những quyết định sai lầm trong lịch sử”: “Phòng tuyến Maginot không hề yếu kém. Nhưng, những người xây nên nó đã tỏ ra quá yếu kém”. 

Nó – một công cụ ngăn chặn – bị bắt phải trở thành một thứ vũ khí tối hậu. Nó, tuyệt tác phòng ngự, lại cũng chính là sự lãng phí nguồn lực đáng lẽ phải được dành để bắt kịp xu thế của chiến tranh thời đại mới. Và nó, Phòng tuyến Maginot, củng cố một quan niệm sai lệch, khi thực ra chẳng bức tường nào đứng vững được nếu thiếu yếu tố tinh thần.

Nhưng có lẽ, phải đến Điện Biên Phủ, bài học ấy mới được nước Pháp học thuộc lòng…

Năm 1926, Maginot bắt đầu thuyết phục được chính phủ cấp vốn cho các đoạn thí điểm của phòng tuyến. Ba năm sau, ông có được trọn vẹn khoản kinh phí 3,3 tỷ franc. Sau đó, ông còn xin thêm được những khoản nâng cấp đoạn tường qua Alsace – Lorraine. Bảy năm sau khi Andre Maginot qua đời vì bệnh thương hàn, phòng tuyến khổng lồ ấy mới chính thức hoàn tất, ngay trước thềm Đại chiến Thế giới.

Dọc theo phòng tuyến, có 45 pháo đài lớn, mỗi pháo đài cách nhau khoảng 9 dặm. Hệ thống này được bổ trợ bằng 97 pháo đài nhỏ hơn và 325 công sự có lỗ châu mai đặt súng máy. Chúng được nối với nhau bằng khoảng hơn 62 dặm đường hầm.

Đông Thư

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.