Phạm Đình Hổ và trào lưu khảo chứng học ở Việt Nam

Phạm Đình Hổ (1768-1832) cùng Lê Quý Đôn (1726-1784) và Phan Huy Chú (1782-1840), được coi như những nhà khảo chứng học nổi tiếng nhất vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.

Sự xuất hiện của các nhà khảo chứng ở giai đoạn này với hàng loạt tên tuổi khác như Nguyễn Nghiễm (1708-1776), Nguyễn Huy Oánh (1722-1789), Đặng Thái Phương (thế kỷ XVIII), Ngô Thì Sĩ (1726-1780), Ngô Thì Nhậm (1746-1803), Bùi Huy Bích (1744-1818), Bùi Dương Lịch (1757-1828), Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), là kết quả của quá trình tương tác liên văn hóa giữa xã hội Việt Nam vào thế kỷ XVIII - XIX và phong trào khảo chứng học và thực học ở Đông Á.

“Các nhà Nho đã đi vào kinh học vào khảo bình cổ sử, ghi chép kiến văn, khảo cứu sưu tầm, soạn thuật điển chế, phương chí... Các sản phẩm học thuật này nhìn chung đều gắn liền với mục tiêu kinh thế và mục đích chính trị... Những người làm công việc khảo cứu hy vọng tìm hiểu di sản quá khứ để châm chước thực thi vào hiện tại, để giữ thịnh phòng suy, để ngăn ngừa bạo loạn...” (theo Nguyễn Kim Sơn, 1997).

Phạm Đình Hổ.
Phạm Đình Hổ.

Với tinh thần thực học được khởi phát từ bối cảnh thời đại, Phạm Đình Hổ đã viết nhiều tác phẩm đặc sắc, có giá trị, như Nhật dụng thường đàm, Tang thương ngẫu lục, Quần thư tham khảo, Vũ trung tùy bút... Tổng số lượng trang tác phẩm hiện còn (không tính dị bản) có đến 4.167 trang, hiện mới dịch 4 tác phẩm sang tiếng Việt với 805 trang. Cùng với Lê Quý Đôn, ông hiện lên như một nhà bách khoa với các tác phẩm bao quát trên nhiều lĩnh vực: Nho học, Dịch học, cổ sử, địa lý học, bản đồ học, từ điển học, phong tục văn hóa, tín ngưỡng tâm linh... Phạm vi hoạt động từ sáng tác, dịch thuật, biên trứ (khảo cứu), cho đến giảng dạy, biên soạn từ điển - sách giáo khoa.

Mảng khảo chứng học là một thực hành văn hóa chủ lưu của thời đại, mục đích là để chấn hưng đạo học của Nho gia. Công việc khảo chứng được coi là một hành động nhập thế. Lấy tri thức thực học làm nền tảng xã hội, các nhà Nho như Phạm Đình Hổ muốn sử dụng các nội dung triết học - đạo đức để di bồi phong hóa, kế nối đạo học, chấn chỉnh giáo dục, sửa sang khoa cử. Điều này trước tiên được thể hiện qua các công trình huấn hỗ, thuyên thích kinh điển như Thư kinh diễn nghĩa, Dịch kinh phu thuyết của Lê Quý Đôn, Luận ngữ ngu án của Phạm Nguyễn Du, Xuân thu quản kiến của Ngô Thì Nhậm, Chu dịch quốc âm giải nghĩa của Đặng Thái Phương... Trên học phong thời đại đó, Phạm Đình Hổ cũng biên soạn Hy kinh lãi trắc, Quần thư tham khảo hay hiệu chính Dịch quỹ bí áo tập. Số trang khảo cứu của Phạm Đình Hổ chiếm một số lượng lớn trong di sản văn hiến còn lại của ông.

Các tác phẩm ngoài tinh thần khảo cứu học thuật đồng thời cũng mang yếu tố giáo khoa, phục vụ cho hoạt động giảng dạy kinh điển Nho học của ông. Hoạt động này là phổ biến trong văn hóa giáo dục truyền thống. Bởi “sự truyền bá, tiếp nhận về kinh điển Nho gia ở Việt Nam gắn chặt với giáo dục và khoa cử, ít có và rất hiếm có việc thảo luận không gắn với khoa cử” (dẫn lời của Nguyễn Kim Sơn, 2015). Kinh học và khảo chứng học ở Việt Nam không hướng đến kinh viện mà chú trọng vào thực tiễn, chú trọng vào đào tạo, quan tâm đến các phương thức hành đạo hơn là thể nghiệm triết học.

Phạm Đình Hổ đồng thời cũng tiến hành các khảo chứng, bình luận sử học. Hoạt động khảo chứng này được thực hiện trên tinh thần trọng sử, “dĩ sử minh kinh”(dùng sử để làm sáng nghĩa lý kinh điển), “dĩ kinh chứng sử” hoặc lớn hơn “dĩ sử kinh thế” (dùng sử để kinh bang cứu đời). Làm sử là làm chính trị, Lê Quý Đôn đã viết rõ như vậy trong khi soạn sách Thư kinh diễn nghĩa: “...sách này cũng có thể để nhà vua xem luôn bên cạnh, dùng làm công cụ lấy đức trị dân”.

Khảo chứng học của Phạm Đình Hổ quan tâm đến một vấn đề quan trọng của triều đình, quốc gia, đó là địa lý học và bản đồ học. Tác phẩm địa lý học của Phạm Đình Hổ hiện còn là sách Kiền khôn nhất lãm. Đây là một chuyên thư về địa lý Việt Nam và một số nước tiếp giáp biên giới như Trung Quốc, Ai Lao, Cao Miên; trong đó có bản đồ Thăng Long và 13 bản đồ các phủ lị. Các loại hình bản đồ bao gồm: bản đồ quốc gia, bản đồ các khu vực hành chính, bản đồ sông ngòi, đê điều, bản đồ ghi biên giới đất liền và hải đảo.

Một điều đáng lưu ý là bản địa dư toàn đồ trên có vẽ cả đảo Lý Nhân (tức Lý Sơn - cù lao Ré) và quần đảo Hoàng Sa. Tác giả có chép lại một đoạn về Hoàng Sa như sau:  “Trong biển có dải cát dài, tên là Bãi Cát Vàng, ước chừng dài 400 dặm (200 km), rộng 20 dặm (10 km), đứng dựng giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh. Mỗi khi gió Tây Nam thì thuyền buôn các nước đi ở phía trong trôi giạt vào đó, khi gió Đông Bắc thì thuyền đi mé ngoài trôi giạt vào đó, đều chết đói hết cả, hàng hóa thì đều còn để nơi đó.

“Tang thương ngẫu lục”.
“Tang thương ngẫu lục”.

 Họ Nguyễn, mỗi năm vào cuối đông, đưa 18 chiếc thuyền đến đó lấy hàng hóa, được phần nhiều là các loại vàng bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm, vượt biển đến đó mất một ngày rưỡi; từ cửa Sa Kỳ đến đó nửa ngày. Các bãi cát dài ở quần đảo ấy cũng có đồi mồi”. Với công trình này, Phạm Đình Hổ hiện lên với tư cách một nhà địa lý học đang khảo tả về các khía cạnh cương giới đất liền, cương giới lãnh hải. Ông đã sớm chú ý kế thừa tính tổng thể toàn vẹn của cả hai nguồn sử liệu văn hiến và sử liệu bản đồ. Đây cũng là một trong những khía cạnh làm nên đặc tính thực chứng của tác phẩm địa lý này.

Một trong những hoạt động tiêu biểu nhất chứng minh cho tầm uyên bác cổ kim của Phạm Đình Hổ là các khảo chứng liên quan đến văn hóa. Cụ thể là các so sánh liên văn hóa và các khảo chứng cụ thể về văn hóa bản địa.

Ở khía cạnh này, Phạm Đình Hổ không những tỏ ra không thua kém và đa dạng không kém Lê Quý Đôn. Khảo chứng văn hóa có xu hướng thể hiện cá tính cá nhân. Nhưng ẩn chứa sau đó vẫn là một hoài bão muốn dùng trước tác để khiến giáo hóa văn minh, phong tục thuần hậu. Phạm Đình Hổ tỉ mẩn, thận trọng, từ cái âm con chữ, giấy viết, mộc bản, thư trát đến các loại hình văn hóa, cả bác học lẫn dân gian.

Qua những hoạt động khảo cứu này, ông hiện lên như một chủ thể văn hóa luôn mở rộng các biên độ của nhận thức, ông trải nghiệm, thực hành và đắm chìm trong những nét văn hóa cổ xưa. Hàng loạt khảo chứng thú vị về văn hóa như: tục thờ xã (xã đàn), thành hoàng làng, trâu đất, long sinh cửu tử, tục rắc vôi đêm trừ tịch, các đồ đo lường, vàng mã, lễ đầy năm (thôi nôi, toái bàn), trùng tang phục táng,... đều được ông ghi chép chi tiết. Mỗi một mục từ như một khảo cứu chuyên sâu vừa uyên bác, tinh tế lại rất thú vị và thanh tao.

Phạm Đình Hổ còn khảo chứng về danh lam cổ tích (chủ yếu là các danh lam của Thăng Long và vùng Bắc Hà), khảo chứng về sản vật (thực vật, động vật). Biên độ quan tâm của ông tương đối rộng và mang tính thực chứng cao. Song, thực hành văn hóa của Phạm Đình Hổ còn được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác như mảng dịch thuật có cuốn Tào đại gia nữ giới, mảng sáng tác thi ca có đến vài trăm tác phẩm được chép lại trong Đông Dã học ngôn thi tập và Châu Phong tạp thảo,...

Về sáng tác văn học, được biết đến nhiều nhất là hai tập: Vũ trung tùy bút (Tùy bút trong mưa, tác phẩm chữ Hán) và Tang thương ngẫu lục. Cả hai tác phẩm tập trung mô tả thân phận con người trong những cơn mưa gió chính trị, trong lúc bể dâu tang tóc. Các dòng văn giàu chất hiện thực toát lên tinh thần dân bản và quan điểm chính thống của nhà Nho.

“Vũ trung tùy bút”.
“Vũ trung tùy bút”.

Thơ Phạm Đình Hổ giàu chất hoài cổ, do những trải nghiệm từ cuộc sống bệnh tật, nghèo khó, tang thương trong nửa đời người. Phảng phất trong nhiều bài thơ là tâm sự của người tha hương, một nhà Nho thất bại trong khoa trường, không nối được gia nghiệp của cha ông, một thân phận như cỏ bồng trong gió loạn. Con người cá nhân trong thơ Phạm Đình Hổ là con người nhà giáo - nhà Nho: trí tuệ thiên về học thuật, tư tưởng trong sáng, thuần hậu và phong cách nghiêm nghị.

Phạm Đình Hổ chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Các tác phẩm khảo chứng trải dài trên nhiều lĩnh vực khác nhau, mang tính bách khoa, từ kinh học Nho gia cho đến khảo chứng Bắc sử - Nam sử, địa lý, văn hóa, văn vật, điển chương chế độ... Đây là một trào lưu xã hội mang tính khai sáng, nhằm hướng tới cái thiết thực hữu dụng với mục đích “kinh thế tế dân”.

Phạm Đình Hổ, cùng với các học giả đương thời, đã chú ý tới cải cách giáo dục và khoa cử, đã cố gắng vun bồi Nho phong sĩ khí, triển khai tinh thần học thuật, mở rộng tư tưởng văn chương... nhằm thực hiện các hoài bão về chính trị thông qua con đường học thuật. Ông hiện lên với tư cách là một nhà văn hóa đa ngành, vừa kết nối tri thức bản địa với những kinh điển và chính trị Nho giáo, là một danh nhân đa diện có nhiều đóng góp cho văn hiến Việt Nam.

Trần Trọng Dương

Các tin khác

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.